Nguyễn Xuân Nam, Trần Tân Văn, Đoàn Thị Ngọc Huyền, Đoàn Thế Anh, Đỗ Văn Thắng, Nguyễn Đình Tuấn, Lê Anh Phương, Nguyễn Thị Lan, Trần Ngọc Yến, Cao Thị Hường, Hoàng Xuân Đức, Phạm Thị Thúy
Trung tâm Karst và Di sản Địa chất
Tóm tắt:
Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh và một phần thuộc tỉnh Bắc Giang, tỉnh Hải Dương, là khu vực có ý nghĩa quan trọng về lịch sử, văn hóa và cảnh quan tự nhiên. Khu vực này không chỉ nổi tiếng với các di tích văn hóa mà còn có giá trị địa mạo đặc sắc, phản ánh lịch sử phát triển địa chất khu vực. Nghiên cứu địa mạo theo nguyên tắc nguồn gốc xác định 3 dạng nguồn gốc: Bóc mòn, hòa tan-rửa lũa và tích tụ. Trong đó nguồn gốc bóc mòn phát triển ở địa hình núi thấp, đồi. Nguồn gốc tích tụ phát triển ở phần thấp hơn là thung lũng giữa núi, ven chân núi,đồng bằng. Nguồn gốc hòa tan-rửa lũa phát triển ở địa hình núi đá vôi.
Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử có tiềm năng di sản địa mạo với giá trị khoa học, cung cấp thông tin về lịch sử địa chất và quá trình phát triển địa hình khu vực, là minh chứng cho hoạt động nâng cao địa hình trong kiến tạo vùng Đông Bắc Bộ. Cảnh quan địa hình gồm các đỉnh núi, thung lũng, suối thác, cấu trúc địa hình độc đáo tạo nên phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ, hấp dẫn du khách., kết hợp với hiện trạng rừng nguyên sinh được bảo tồn tốt, lịch sử văn hóa đa dạng, đưa khu vực này là một trong những vùng tiềm năng phát triển du lịch địa chất.
Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử là một khu vực có giá trị địa mạo độc đáo với tiềm năng rất lớn về di sản địa mạo nói riêng, địa chất nói chung. Việc nghiên cứu, bảo tồn và khai thác hợp lý các giá trị di sản địa mạo sẽ góp phần phát triển du lịch bền vững và bảo vệ cảnh quan tự nhiên của khu vực này.
Từ khóa: Địa mạo, Yên Tử; Di sản Địa mạo; Tiềm năng Yên tử.
I.GIỚI THIỆU CHUNG
I.1. Tổng quan
Vùng nghiên cứu là dải núi Yên Tử kéo dài theo phương á vĩ tuyến (gần Đông-Tây), trùng với cánh cung Đông Triều , hướng phần lõm uốn cong về phía bắc, về tổng thể thì vùng nghiên cứu thuộc địa hình núi thấp, vùng đồi và vùng thềm phù sa phía đông bắc của đồng bằng châu thổ sông Hồng. Vùng xác định nghiên cứu là “Quần thể Di tích và danh thắng Yên Tử” có tọa độ trung tâm từ 21005’ đến 21009’ vĩ độ Bắc và 106043’ đến 106045’ kinh độ Đông; liên quan đến ranh giới hành chính 3 tỉnh Bắc Giang, Hải Dương và Quảng Ninh. Phân tích trên mô hình số độ cao chia địa hình theo độ cao (theo cách chia của Vũ Tự Lập, 1965, Lê Bá Thảo, 1967) bao gồm: vùng đồi thấp và thung lũng sông có độ cao dưới 100m, vùng đồi trung bình và đồi cao 100-500m, vùng núi thấp có độ cao 500-1500m, chúng tôi chia ra 3 dạng bề mặt địa hình cơ bản là bề mặt đỉnh và sườn núi thấp > 500m; bề mặt đỉnh, sườn đồi trung bình đến cao 100-500m; Bề mặt đồi thấp và đồng bằng < 100m.

Hình 1. Sơ đồ phân chia kiểu địa hình theo độ cao (Vũ Tự Lập, 1965): 1-đồi thấp và thung lũng sông dưới 100m; 2- Đồi trung bình và đồi cao 100-500m; 3-Núi thấp 500-1500m. (nguồn: N.X.Nam và nnk, 2021)
I.2. Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp địa chất: dùng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu địa chất trước thực địa, tiếp đó tiến hành khảo sát thực địa thu thập tài liệu về địa chất, địa mạo và cuối cùng là công tác văn phòng sau thực địa, tổng hợp kết quả viết báo cáo chuyên đề. Bài báo này được tổng hợp từ kết quả chuyên đề nghiên cứu “Đặc điểm địa mạo và tiềm năng di sản địa mạo quần thể di tích và danh thắng Yên Tử” do TS. Nguyễn Xuân Nam chủ trì, thuộc đề tài KHCN cấp tỉnh Quảng Ninh: “Nghiên cứu các đặc điểm, giá trị địa chất-địa mạo và đa dạng sinh học quần thể di tích và danh thắng Yên Tử” do PGS.TS Trần Tân Văn làm chủ nhiệm.
-Phương pháp địa mạo: áp dụng nguyên tắc nguồn gốc, tuổi để phân chia ra các dạng địa hình trong vùng nghiên cứu; Từ đó đã đánh giá để nhận diện một số giá trị di sản địa mạo trong vùng nghiên cứu làm cơ sở để đề xuất bảo tồn tài nguyên phát triển bền vững.
-Phương pháp đánh giá di sản địa chất: dựa trên các nội dung, xác định tiêu chí đánh giá di sản địa chất theo thông tư số 50/2017/TT-BTNMT.
II. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO
Nguyên tắc nguồn gốc, tuổi được áp dụng phân chia địa hình thành 03 nhóm địa hình: 1/nhóm địa hình bóc mòn, tuổi N-Q ; 2/ Địa hình karst, tuổi N-Q; 3/nhóm địa hình tích tụ, tuổi Q.
II.1. Nhóm địa hình bóc mòn, tuổi N-Q
Nhóm địa hình bóc mòn được phân chia thành 4 dạng địa hình có tuổi từ Neogen đến Đệ tứ bao gồm: 1/Địa hình bóc mòn rửa trôi; 2/Địa hình bóc mòn tổng hợp trên đá lục nguyên; 3/địa hình bóc mòn trên đá biến chất và 4/địa hình bóc mòn trên đá magma. Về cơ bản nhóm địa hình bóc mòn chịu tác động của quá trình ngoại sinh với quá trình phong hóa cơ học, vật lý làm cho địa hình giảm dần độ cao, vật chất được đưa từ phần cao của địa hình xuống tích tụ ở phần thấp hơn. Một trong những đặc điểm nổi bật của địa hình bóc mòn là quá trình san bằng bóc mòn để tạo nên những bề mặt tương đối bằng phẳng, được phát hiện ở trên một số đỉnh núi, sườn núi, đôi khi phải liên kết cả một loạt các đỉnh núi có cùng độ cao, hay các dải đồi thấp thoải liền kề nhau. Bề mặt này chính là di sản địa mạo là minh chứng cho quá trình phong hóa bóc mòn cơ lý mà hoạt động kiến tạo nâng, hạ là thứ yếu. Các bề mặt san bằng trên dãy núi Yên tử tạo nên những di tích và danh thắng ngày nay.
- Bề mặt san bằng 900 – 1000m, tuổi Miocen muộn (N13)
Đây là những bề mặt tương đối bằng phẳng, phân bố hạn chế trên bề mặt đỉnh, dọc theo đường chia nước của dãy núi Yên Tử. Chúng là bề mặt cao nhất trong vùng nghiên cứu, tồn tại ở dạng các mảnh sót, rộng 300-500 m2. Trên bề mặt hoặc lộ trực tiếp đá gốc hoặc bị phủ bởi tảng, cục, dăm, sạn, bột, sét. Thể hiện quá trình phong hóa do các yếu tố ngoại sinh chiếm ưu thế phá hủy san bằng địa hình trong thời gian lâu dài. Tuổi của bề mặt này được liên hệ với quá trình hình thành bán bình nguyên vào Miocen muộn và thống nhất với công trình nghiên cứu trước đây trong luận án của Lê Đức An 1985; của Đỗ Tuyết, 1996 trong nhóm tờ Cẩm Phả, xếp bề mặt này vào tuổi Miocen muộn (N13).
- Bề mặt san bằng 400 – 800m, tuổi Pliocen sớm
Bề mặt phân bố trên đỉnh phân thủy ở phía tây dãy núi Yên Tử, nhìn từ xa đường phân thủy dạng gồ ghề tuy nhiên đều ở khoảng độ cao 700 – 800m, liên tưởng tới một bề mặt khá bằng phẳng trước đây, nay bị bóc mòn chia cắt, sót lại những mảnh bề mặt nhỏ trên đỉnh có diện tích không quá 1 km2. Dựa vào quan hệ nằm dưới bề mặt san bằng 900-1000m, xếp bề mặt san bằng 400-800m có tuổi Pliocen sớm.

Hình 2. Bề mặt san bằng sót cao 500-600 m ở sườn nam dãy núi Yên Tử, khu vực núi đá Chồng và chùa Hồ Thiên, Quảng Ninh . (nguồn: N.X.Nam và nnk, 2021)
- Bề mặt san bằng 200-300m, tuổi Pliocen muộn.
Bề mặt này chiếm diện tích lớn nhất, phân bố phổ biến ở khu vực tây Yên Tử thuộc tỉnh Bắc Giang, hoặc trên sườn dãy núi Yên Tử, hay các núi đá vôi, đồi thấp ở vùng Mạo Khê, Đông Triều. Bề mặt thể hiện bằng việc kết nối phần đỉnh của các đồi, núi thấp, hình thành cảnh quan vùng núi, đồi có nhiều đỉnh bằng. Trên bề mặt đỉnh vỏ phong hóa mỏng. Hiện tượng bóc mòn rửa trôi chiếm ưu thế. Về cảnh quan, bề mặt san bằng 200-300m rất có giá trị thưởng ngoạn khi được quan sát từ trên cao, đặc biệt là ở vị trí chùa Đồng trên đỉnh núi Yên Tử. Tuổi của bề mặt này được xác định trong Pliocen muộn (N22), theo Hoàng Ngọc Kỷ 1978.
- Bề mặt san bằng 100-150m, tuổi Pleistocen sớm.
Bậc địa hình có độ cao tuyệt đối 100 -150m tương ứng với bề mặt đỉnh các đồi thấp ở khu vực Đông Triều, Hải Dương, Bắc Giang. Trầm tích tương quan của bề mặt san bằng này tương ứng với hệ tầng Lệ Chi ở bên dưới đồng bằng, tầng trầm tích này này tương ứng với 1 chu kỳ phá hủy và san bằng địa hình. Mở đầu là loạt trầm tích hạt thô cuội, sạn thạch anh, si lic chuyển lên phần cao là các lớp vật liệu mịn hơn (cát, bột, sét). Điều đó cho thấy đây là một giai đoạn vận động nâng mới, phá hủy bề mặt san bằng đã được hình thành trước, sau đó vận động nâng giảm dần xâm thực ngang chiếm ưu thế tạo một bề mặt ngang mới, liên hệ trầm tích tương quan cho thấy bề mặt san bằng mức 100-150m có tuổi Pleixtocen sớm (Q11).

Hình 3. Mặt cắt địa hình từ bắc xuống nam khu vực Mạo Khê, thể hiện bề mặt san bằng cao 100-150m ở núi Nấm Chương. (nguồn: N.X.Nam và nnk, 2021)
- Sườn bóc mòn tổng hợp, tuổi Neogen-Đệ tứ (N-Q)
Chiếm diện tích phổ biến nhất trong vùng nghiên cứu. Đây là địa hình bóc mòn phát triển trên các dạng địa hình núi thấp, đồi cao và đồi thấp…vv, trên tất cả các dạng địa hình dương nổi lên cao trên đồng bằng. Quá trình bóc mòn tổng hợp chịu tác động của nhiều yếu tố bóc mòn như: bóc mòn-xâm thực, xâm thực-bóc mòn, rửa trôi, trọng lực. Nhìn chung những dạng địa hình nổi cao trên bề mặt đồng bằng đều chịu tác dụng bóc mòn tổng hợp trở thành nguồn cung cấp vật liệu trầm tích mang xuống tích tụ ở vùng thấp. Dạng địa hình bóc mòn tổng hợp phân bố ở sườn nam dãy núi Yên Tử tỉnh Quảng Ninh, sườn bắc núi Yên Tử tỉnh Bắc Giang, khu vực chùa Thanh Mai phía ĐB tỉnh Hải Dương, trên các trầm tích lục nguyên thuộc các hệ tầng Yên Phụ (D1-2yp), Nà Khuất (T2nk), Mẫu Sơn (T3cms), Hòn Gai (T3n-rhg), Hà Cối (J hc), lục nguyên phun trào hệ tầng sông hiến (T2ash)…vv.
- Sườn bóc mòn rửa trôi, tuổi Đệ tứ (Q)
Địa hình bóc mòn rửa trôi thể hiện ở những đồi, núi thấp, có độ cao phổ biến từ 50-100m, có độ dốc sườn 15-250, có đỉnh dạng vòm, sườn thoải, không có đường chia nước, các đá tạo thành các đồi này thường là đá lục nguyên. Quá trình bóc mòn rửa trôi diễn ra đều trên bề mặt sau các trận mưa, nước mưa chảy tràn đưa sản phẩm phong hóa rửa trôi trên bề mặt đỉnh và sườn xuống phần địa hình thấp hơn. Quá trình rửa trôi phát triển mạnh ở các đồi nằm đơn độc trên bề mặt đồng bằng , thường tạo nên cảnh quan rất độc đáo là các đồi hình vòm hình nấm, hay dãy các đồi dài với các đỉnh có cùng độ cao. Các đá tạo thành các đồi này thường là đá lục nguyên, và lục nguyên phun trào thuộc các hệ tầng Yên Phụ (D1-2yp), Nà Khuất (T2nk), Mẫu Sơn (T3cms), Hòn Gai (T3n-rhg), Hà Cối (J hc) và hệ tầng sông hiến (T2ash). Tuổi của bề mặt này được luận giải dựa vào bề mặt san bằng bóc mòn 100-150m, với logic bề mặt thấp hơn thì có tuổi trẻ hơn, do đó xếp vào tuổi Đệ tứ sau giai đoạn Pleistocen sớm.
- Sườn bóc mòn kiến trúc, tuổi Neogen-Đệ tứ (N-Q)
Hình dạng địa hình thường phản ánh cấu trúc địa chất, có thể là thế nằm của đá, các nếp uốn, đứt gãy…vv. Đặc điểm nổi bật tạo nên cảnh quan tuyệt đẹp của dãy Yên Tử là cấu trúc đơn nghiêng tạo nên bởi thế nằm của đá và hoạt động đứt gãy đã tạo dạng sườn nghiêng theo mặt lớp đá và tác động bóc mòn phát triển theo bề mặt này. Địa hình theo đó có một sườn rất dốc và một sườn thoải, trên đỉnh thường lộ đá gốc, vỏ phong hóa bị bóc mòn đưa xuống những chỗ thấp, thuận tiện cho tích tụ. Bóc mòn kiến trúc là một dạng của bóc mòn tổng hợp, được tách ra nhằm nhấn mạnh tác động bóc mòn địa hình trên cấu trúc địa chất. Trong vùng nghiên cứu dạng địa hình bóc mòn kiến trúc có thể xếp vào kiểu di sản địa mạo bởi dạng địa hình một sườn thoải, một sườn dốc. Hình dạng địa hình thường phản ánh cấu trúc địa chất, có thể là thế nằm của đá, các nếp uốn, đứt gãy…vv. Đặc điểm nổi bật tạo nên cảnh quan kỳ vĩ của dãy núi Yên Tử là cấu trúc đơn nghiêng tạo nên bởi thế nằm của đá cuội kết, đứt gãy hoạt động cắt theo đường phương lớp đá đã tạo nên một bên cánh đứt gãy nghiêng thoải và bên cánh kia rất dốc, khi cánh thoải trùng với sườn địa hình tạo nên cảnh quan sườn núi đơn nghiêng và hoạt động bóc mòn theo sườn này phát triển rất mạnh. Ở khu vực chùa Đồng sườn núi phía nam trùng với lớp đá cuội kết cắm dốc 300, trong khi đó ở phía bắc sườn dốc đến 700, giữa chúng tạo đường phân thủy sắc nhọn. Địa hình đơn nghiêng không chỉ có ở khu vực chùa Đồng mà dọc theo đường chia nước của dãy núi Yên Tử, nhiều nơi còn lộ ra, tuy bị các đứt gãy có phương khác nhau cắt qua làm xoay chuyển đi chút ít nhưng vẫn giữ được dạng địa hình đơn nghiêng độc đáo hình thành do hoạt động kiến tạo.
Một trong những dạng địa hình khá đặc biệt trên dãy núi Yên Tử là dạng địa hình đơn nghiêng, đang chịu tác động mạnh mẽ của hoạt động bóc mòn. Chùa Đồng đặt ở vị trí cao nhất của dãy Yên Tử chính là nằm trên đỉnh một cấu trúc địa chất đơn nghiêng như vậy. Cấu trúc đơn nghiêng, một vách dốc một vách thoải của địa hình tạo bởi các lớp đá cuội kết hệ tầng Hà Cối tuổi cách ngày nay khoảng 200 triệu năm, kéo dài dọc theo đường chia nước quả thật đã tạo nên kỳ quan có giá trị thưởng ngoạn khi đứng quan sát từ chùa Đồng.

Hình 4. Mặt cắt thể hiện một số chùa thuộc thiền phái Trúc Lâm, ở sườn Đông dãy núi Yên Tử đều nằm trên dạng địa hình bóc mòn. (nguồn: N.X.Nam và nnk, 2021).
II. 2. Địa hình karst, tuổi N-Q.
Một dạng khác của địa hình bóc mòn là quá trình hòa tan rửa lũa các đá cacbonat, tạo thành dạng địa hình rất đặc biệt bao gồm dạng karst thơ ấu, non trẻ, trưởng thành, già nua. Đi cùng với chúng là các di sản địa chất, địa mạo karst với những tháp karst, rừng đá karst, dạng karst cụm đỉnh hay rời rạc; hệ thống thủy văn ngầm, hệ thống hang động, những cánh đồng gặm mòn karst…vv.
Trong vùng nghiên cứu đáng kể đến là địa hình karst vịnh Hạ Long đã được đánh giá là kỳ quan thiên nhiên thế giới. Nơi đây có đến 1969 hòn đảo lớn nhỏ đều có thành phần thạch học là đá vôi thuộc hệ tầng Bắc Sơn (C-Pbs), tổng bề dày khoảng 900-1300 m. Đá vôi có màu xám, xám sáng, có kiến trúc hạt mịn, nhỏ đến trung bình, có cấu tạo phân lớp trung bình đến dày, nhiều nơi có cấu tạo khối tảng, thành phần hóa học có tính ổn định trên phạm vi rộng. Trong đó, lượng CaO thường đạt trên 54%, lượng mất khi nung thường trên 43% hay hàm lượng carbonat calci thường xuyên đạt trên 96% , nghĩa là đá vôi có độ thuần vôi rất cao, rất thuận lợi cho quá trình karst hóa. Ngoài ra đá vôi Hạ Long còn có kiến trúc, cấu tạo thuận lợi cho karst hóa, đó là các khe nứt khá phát triển trong đá vôi do kiến tạo. Các khe nứt kích cỡ khác nhau xuất hiện khá dày là những đường dẫn tự nhiên cho nước mưa thâm nhập sâu vào khối đá vôi để thực hiện karst hóa. Tốc độ karst hóa ở mỗi vùng cụ thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc điểm của đá vôi (CaCO3), lượng khí CO2 hòa tan trong nước… Khí CO2 là thành phần của khí quyển sẵn có trong tự nhiên, mỗi môi trường cụ thể thì hoàn toàn không giống nhau. Trong đó, lượng CO2 trong đất – nơi có các rễ cây cũng như nơi hoạt động mạnh của thế giới vi sinh, thường lớn hơn nhiều so với lượng CO2 sẵn có trong không khí. Vì thế ở các vùng nhiệt đới ẩm, tốc độ karst hóa thường lớn hơn nhiều so với các đới khí hậu khác. Lượng mưa là yếu tố giữ vai trò quyết định trong karst hóa. Ở vùng nhiệt đới ẩm, thường có tốc độ karst hóa nhanh, vì có lượng mưa cao, đặc biệt là lượng khí CO2 – yếu tố rất quan trọng cho karst hóa, được cung cấp do hoạt động của thế giới sinh vật, nhất là vi sinh.Vì thế, ta hiểu tại sao tốc độ karst hóa ở các vùng nhiệt, đới ẩm thường lớn gấp hàng trăm lần so với tốc độ karst hóa ở các đới khí hậu khác. Ngoài ra, góp phần vào sự hình thành cảnh quan karst Hạ Long hiện đại phải kể đến vai trò của nhân tố biển. Tác động ăn mòn đá vôi của nước biển là khá mạnh, các sườn đảo đá vôi vịnh Hạ Long thường tồn tại các ngấn ăn mòn sâu vào khối đá vôi. Nguyễn Thanh Sơn và nnk, 2011, xác định nguyên nhân hình thành các ngấn hàm ếch của các đảo đá vôi vịnh Hạ Long là do hoạt động ăn mòn sinh-hóa của nước biển. Trong đó, nguồn CO2 cung cấp cho hoạt động hòa tan đá vôi để làm cho nước biển ăn mòn mạnh hơn nước mưa. Ngoài ra, ở rìa nơi tiếp xúc với biển mở, tác dụng ăn mòn cơ học và hóa học của biển tại nơi ấy đã khiến cho nhiều đảo đá vôi bị đánh sập và đổ xuống biển. Nhìn chung, Hạ Long hội đủ các điều kiện cần và đủ cho quá trình karst hóa diễn ra khá mạnh để tạo nên cảnh quan karst đặc sắc có thể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới mà các tác giả gọi là kiểu “karst vịnh Hạ Long”.
Sự hình thành và phát triển cảnh quan karst khu vực ven biển vịnh Hạ Long, cũng như khu vực Tràng Kênh-Hải Phong, Kinh Môn-Hải Dương ngoài yếu tố là đá vôi C-P thuận lợi cho quá trình karst hóa thì phải kể đến hoạt động tân kiến tạo. Theo Trần Văn Trị, Lê Đức An : “Địa mạo vịnh Hạ Long là một mẫu hình tuyệt vời về karst trưởng thành, nhờ có tầng đá vôi dày khoảng 1000 m khá thuần nhất, trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều và trên nền tổng thể nâng tân kiến tạo chậm chạp dưới sự tác động tương hỗ biển, đất, trời”. Thực tiễn cho thấy do ảnh hưởng của sự di chuyển lên phía bắc của mảng tiểu lục địa Ấn Độ đã tạo nên va chạm mảng Âu – Á gây biến động và xác định nên bình đồ cấu trúc tân kiến tạo Đông Dương (Fromaget J). Trong sự hình thành các cấu trúc mới của Đông Dương nói chung và vùng khu cực Đông Bắc Việt Nam trong đó có Hạ Long nói riêng, còn phải kể đến vai trò của sự di chuyển về phía tây của mảng Thái Bình Dương vào Mesozoi muộn đã tạo ra đới hút chìm khi gặp mảng lục địa châu Á. Sự kiện này đã tạo nên cấu trúc kiểu “rìa động” của rìa lục địa Đông Á. Các sự kiện kiến tạo trên đây đã quyết định cho sự ra đời bình đồ cấu trúc kiến tạo mới của Việt Nam, trong đó có sự xuất hiện của “bồn trũng Sông Hồng”, “bồn trũng Vịnh Bắc Bộ”.
Nghiên cứu địa hình karst đã cho thấy quá trình hòa tan-rửa lũa karst diễn ra với quá trình lâu dài dưới sự khống chế của chuyển động nâng kiến tạo. Tuy nhiên quá trình karst hóa chưa một lần diễn ra đến giai đoạn cuối cùng để tạo nên cảnh quan đồng bằng bóc mòn karst thực thụ. Cảnh quan mà quá trình karst tạo ra vẫn là cảnh quan karst cụm – đỉnh – lũng hay gọi chung là “karst núi”. Cảnh quan karst về phía nam hoặc karst các vùng núi Bài Thơ, Quang Hanh phía bắc kề liền Hạ Long là ví dụ tiêu biểu. Tại đấy không thấy đồng bằng karst với những dạng tháp nổi trên đồng bằng- một dấu hiệu để nhận biết của cảnh quan đồng bằng karst.
II. 3. Nhóm địa hình tích tụ
- Tích tụ nguồn gốc sông
a-Các bậc thềm sông
Bậc thềm sông là dấu vết trong quá khứ của các con sông hiện tại, chúng phản ánh hướng dịch chuyển qua thời gian của con sông. Liên quan đến khu di tích và danh thắng Yên Tử có một số sông, suối quan trọng như suối Giải Oan, sông Cầm chạy dọc thung lũng Thượng Yên Công, sông Bí trước Đền Trình…vv, những con sông này đều để lại những bậc thềm sông.
Qua khảo sát thực tế phát hiện được các bậc thềm sông cổ, thượng lưu của sông Bạch Đằng là sông Cầm chảy trong thung lũng Thượng Yên Công ven chân dãy núi Yên Tử, con sông này có bồn thu nước hầu như toàn bộ sườn phía nam dãy Yên Tử từ xã Thượng Yên Công về phía tây, ban đầu dòng chảy bám sát ven chân sườn dãy núi Yên Tử, sau đó dịch chuyển về phía nam, tại vị trí phát hiện tích tụ thềm bậc II cách với lòng sông hiện nay đến gần 2 km, cho thấy thung lũng được tạo bởi chính con sông Cầm. Hiện tại đoạn trung lưu con sông không lớn, nhưng đoạn hạ lưu là sông Bạch Đằng mở rộng rất lớn.

Hình 5. Mặt cắt liên hệ các điểm khảo sát từ suối Giải oan về hạ lưu sông Cầm: tại điểm YT.280 là đoạn thượng lưu của sông Cầm, lòng suối hẹp tích tụ nhiều tảng cuội kích thước lớn, tiếp đến điểm YT.279 lòng suối mở rộng hơn lộ nhiều cuội kích thước đã giảm đi nhưng vẫn lớn, ít tảng hơn; xuôi theo dòng về điểm YT.252 phát hiện thềm bậc I cách dòng sông hiện tại 50m, có độ cao hơn mực nước sông 3,5m, cấu tạo bởi bột, cát màu nâu vàng; tiếp đến điểm YT.256 gặp tích tụ sông-lũ cách sông Cầm khoảng 2km, cao hơn mực nước sông hiện tại 25m. (nguồn: N.X.Nam và nnk, 2021).
Có thể đưa ra nhận xét về sự hình thành của thung lũng Thượng Yên Công, thung lũng này có phương á vĩ tuyến trùng với phương cấu trúc của khu vực, chắc chắn khởi đầu bị khống chế và phát triển theo đứt gãy, tuy nhiên tạo thành bề mặt có diện tích rộng như hiện nay (trung bình khoảng 1,5 km) có vai trò quan trọng của sông Cầm. Đoạn sông Cầm ở phía nam núi Mạo Khê (sông Đá Vách, sông Đá Bạc) giai đoạn Pleistocen còn có dấu vết của bậc thềm bám trên sườn và rìa chân núi, tuy nhiên trong Holocen lại không có dấu vết do bị ảnh hưởng mạnh mẽ của biển, đoạn sông hiện tại cắt qua trầm tích holocen giữa nên nó phải trẻ hơn và như vậy không loại trừ trong holocen muộn khoảng 3000 năm con sông này vẫn còn chảy qua chỗ Chùa Trình hiện nay và dù có dịch chuyển tiếp về phía nam thì giai đoạn thời Trần (cách đây 700 năm) từ chùa Trình vẫn có thể sử dụng sông này làm đường giao thông đi ra sông Bạch Đằng, hoặc ngược dòng đi vào sông Kinh Thầy về Lục Đầu Giang.
– Thềm sông bậc II, tuổi Pleistocen sớm-giữa (Q12-3)
Trong khu vực nghiên cứu có nhiều sông, suối, trong đó sông lớn nhất là sông Bạch Đằng, tạo nên một phần của lưu vực sông Thái Bình, chảy ra biển đông ở cửa Nam Triệu. Theo tài liệu nghiên cứu trầm tích Đệ tứ, dọc theo lưu vực sông này cơ bản có 3 bậc thềm sông cổ được phát hiện tương ứng với trầm tích nguồn gốc sông của hệ tầng Lệ Chi tuổi pleistocen sớm, nguồn gốc sông lũ của hệ tầng Hà Nội tuổi pleistocen sớm-giữa. và nguồn gốc sông của hệ tầng Vĩnh Phúc tuổi Pleistocen muộn. Đối với khu vực nghiên cứu đã xác định được thềm sông bậc II ở phía tây xã Thượng Yên Công ven chân núi Yên Tử tại độ cao tuyệt đối 50m, chênh độ cao với lòng sông hiện tại 25m. Thành phần là trầm tích sông-lũ gồm hạt thô ở dưới (cuội, cuội tảng), hạt mịn ở trên bị laterit hóa, có chiều dày > 3,5m.
Trong vùng nghiên cứu thềm bậc II tương đương với trầm tích nguồn gốc sông lũ của hệ tầng Hà Nội tuổi pleistocen sớm-giữa. Thềm phân bố dọc bờ phải sông Cầm, bờ phải sông đá Vách, đá Bạc, ven chân núi khu vực Mạo Khê, Uông Bí. Vị trí thềm bậc II dao động ở độ cao tương đối 20-25m, cấu tạo của thềm là cuội, tảng hỗn độn có gắn kết. Ví dụ thềm bậc II ở phía tây xã Thượng Yên Công ven chân núi Yên Tử ở độ cao tương đối 25m, có thành phần gồm 2 lớp: lớp bên dưới là trầm tích cuội, cuội tảng hỗn độn đa thành phần, lớp bên trên hạt mịn hơn là sỏi, cát , chiều dày > 3,5m.
– Thềm sông bậc I, tuổi Pleistocen muộn (Q13)
Thềm bậc I thường có độ cao tương đối từ 8-20m, do bị xâm thực chia cắt chỉ còn sót lại những mảnh có diện tích không lớn, thành phần gồm sét, bột, cát lẫn sạn laterit, màu sắc loang lổ. Thềm bậc I tương ứng với hệ tầng Vĩnh Phúc, do bị xâm thực chia cắt chỉ còn sót lại những mảnh có diện tích không lớn. Phân bố ở bờ phải sông Cầm, bờ trái sông Đá Vách, sông Đá Bạc, thềm cấu tạo bởi sét, bột, cát, có biểu hiện phong hóa laterit tạo màu sắc loang lổ.
– Bãi bồi cao, tuổi Holocen sớm-giữa (Q21-2)
Các bãi bồi là trầm tích do sông mang đến bồi đắp tại hai bên lòng, ven lòng hay giữa lòng sông, bãi bồi cao là dạng địa hình tích tụ chỉ bị ngập nước khi có ngập lụt lớn, thành phần cấu tạo bãi bồi cao, quan sát được ở khu vực Quảng Yên đoạn đền thờ Trần Hưng Đạo là bột, sét, cát màu nâu vàng, tồn tại ở dạng những gò đất nổi cao hơn so với bề mặt đồng bằng từ 1-1,5m, độ cao tuyệt đối dao động từ 4-5m. Về tuổi bãi bồi cao tương đương với hệ tầng Hải Hưng được xác định trong giai đoạn Holocen sớm-giữa. Các bãi bồi là trầm tích do sông mang đến bồi đắp tại hai bên lòng, ven lòng hay giữa lòng sông, bãi bồi cao là dạng địa hình tích tụ chỉ bị ngập nước khi có ngập lụt lớn. Cấu tạo của bãi bồi cao thường là bột, sét, cát bở rời, là diện tích trồng lúa, hoa màu của cư dân sinh sống bên sông. Trong diện tích nghiên cứu bãi bồi cao phân bố dọc theo các sông, sự phân bố bãi bồi cao và bãi bồi thấp ở sông Bạch Đằng, từ mép sông tiếp giáp với bờ là bãi bồi thấp ở độ cao < 2m, tiếp đến là bãi bồi cao có độ cao 4-5m, thành phần bãi bồi cao quan sát được ở đây là bột, sét, cát màu nâu vàng. Về tuổi bãi bồi cao tương đương với hệ tầng Thái Bình, được xác định trong giai đoạn Holocen muộn phần sớm, còn bãi bồi thấp được xác định trong Holocen muộn phần muộn.
– Bãi bồi thấp, tuổi Holocen muộn (Q23)
Bãi bồi thấp nguồn gốc sông là dạng địa hình kém ổn định nhất, có thể thay đổi theo mùa, ít khi có diện tích lớn. Cấu tạo của bãi bồi thấp cũng thay đổi tùy thuộc vào các đoạn thượng lưu, trung lưu và hạ lưu của sông theo độ hạt mịn dần.
- Tích tụ nguồn gốc biển
Phạm vi nghiên cứu bao gồm hầu như toàn bộ đường bờ biển của tỉnh Quảng Ninh và do vậy những dấu ấn của biển để lại trong vùng là cực kỳ quan trọng. Trong quá khứ đã có rất nhiều lần biển tiến vào lục địa để lại những dấu ấn vô cùng rõ nét, đó là các tích tụ nguồn gốc biển.
Các ngấn sóng biển quan sát được ở ven biển Quảng Ninh, Hạ Long, mức thấp nhất liên quan đến sóng biển hiện tại có dạng hàm ếch, sâu trung bình 0,5 m, cao 1-1,5m, đôi khi ngấn này phát triển thành hang, xuyên qua chân núi đá vôi. Ngấn biển thứ hai cao 2,5-5m liên quan đến đợt biển tiến Holocen giữa, khi biển thoái tạo nên tích tụ nguồn gốc biển hệ tầng Hải Hưng. Ngấn sóng biển thứ 3 có độ cao 10-15m, ít gặp hơn, tuy nhiên vẫn khá rõ ràng, có thể thấy một mực hang động cùng độ cao, ngấn sóng biển này liên quan đến đợt biển tiến Pleistocen muộn tạo ra tầng trầm tích biển hệ tầng Vĩnh Phúc.
a-Tích tụ biển hiện đại, tuổi Holocen muộn (mQ23)
Phân bố ở vùng ven biển Quảng Ninh, có độ cao 1,5-2m, bề mặt khá bằng phẳng, thành phần trầm tích liên quan đến các bãi triều có thành phần cát hạt thô, sạn lẫn vỏ sò, ốc biển. Khu vực cửa sông Bạch Đằng, cửa Nam Triệu có dạng hình phễu, lòng sông mở rộng nhanh, lượng phù sa ít nên ở đây có bề mặt đang được hình thành nguồn gốc biển là chủ yếu, bề mặt có độ cao từ -1m đến 1,5m, thường chỉ lộ ra khi khi thủy triều thấp thành phần là cát màu xám phủ lớp mỏng bùn, nhiều nơi phủ một lớp thực vật ngập mặn. Ở vùng đồng bằng Hải Dương, Bắc Giang tồn tại 2 kiểu mặ cắt: 1-kiểu đụn cát của các bãi cát ven biển phân bố trong đới thủy triều với cát thạch anh hạt nhỏ lẫn ít bột màu xám. 2-kiểu vũng vịnh ở dưới lỗ khoan có thành phần bột > 60%, sét 25%, cát 10-15%.
b-Tích tụ biển, tuổi Holocen sớm-giữa (mQ21-2)
Trầm tích Holocen sớm-giữa được hình thành trong đợt biển tiến Flandrian vào giai đoạn mực nước biển dâng cao nhất cách ngày nay khoảng 5000 năm, phân bố khu vực từ Quang Hanh đến Cẩm Phả, được gọi là thềm biển bậc I, ở độ cao từ 4 -5m. Thành phần trầm tích phần dưới là cát hạt thô tướng biển nông ven bờ, chuyển lên trên là hạt mịn: sét, bột tướng vũng vịnh. Chúng thường phủ lên trầm tích Pleistocen muộn.
Trên một số đảo ở khu vực Vân Đồn (đảo Ba Mùn, đảo Phượng Hoàng), Lại Huy Anh, 1990, xác định được hai mực rõ: 3m – 4m và 8m – 10m và cho rằng các thềm này đều có tuổi Holoxen.
– Thềm 8-10m ở vũng phía Đông đảo Ba Mùn : trầm tích thềm biển này là cát hạt nhỏ, phân tuyến tốt với các thấu kính bột.
– Thềm 4-6m về hình thái thể hiện rõ, quan sát thấy ở Tây Bắc đảo Ba Mùn. Trong mặt cắt trầm tích thấy:
+ Phần trên: Cát thạch ảnh hạt nhỏ dầy 3m
+ Phần dưới: cát hạt thô
+ Phần đế: Cuội, sỏi sạn
– Thềm 2,5-3m: Không thể hiện rõ và không liên tục được sắp xếp bởi cát màu vàng lẫn nhiều mảnh vỡ sinh vật.
c-Tích tụ biển, tuổi Pleistocen muộn (mQ13)
Tích tụ biển Pleistocen muộn ở trên bề mặt gọi là thềm biển bậc II, có diện phân bố dạng mảnh sót ở khu vực Tiên Yên, Cẩm Phả, thị trấn Vân Đồn, độ cao dao động 15-30m. Thành phần trầm tích chủ yếu gồm sét, sét bột, bột cát màu vàng, đỏ tím, trắng loang lổ.
d-Tích tụ biển, tuổi Pleistocen giữa- muộn (mQ12-3)
Đây là thềm biển bậc III, rất ít gặp, phân bố ở độ cao từ 45m đến 70m. Thành phần cát, sạn, sét bị laterit.
e -Thềm biển mài mòn (mQ12-3)
Thềm biển mài mòn thể hiện một giai đoạn biển tiến vào lục địa, nước biển mài mòn trầm tích trong lục địa để lại một bề mặt tương đối bằng phẳng, có tích tụ nguồn gốc biển, hoặc bề mặt đá gốc mài nhẵn (bench). Có thể thấy rất rõ khi khảo sát ở rìa các đảo. Lại Huy Anh, 1990 đã xác định các bậc thềm mài mòn (bench) cao đến 4m ở đảo Ba Mùn (Vân Đồn,Quảng Ninh), các bench thường bị phủ vật liệu đổ sập của klif cổ.
Các đồi thấp 25-50m, ven biển Móng Cái, Tiên Yên, Vân Đồn, Bãi Cháy có dạng lượn sóng thoải, đôi chỗ có dạng bát úp. Thực chất dạng địa hình này có liên quan tới các phức hợp thềm cao có nguồn gốc mài mòn do biển và bị biến đổi về sau bởi quá trình xâm thực chia cắt. Các thành tạo bề mặt trên dạng địa hình này gồm sạn lẫn cuội sỏi, cát dày > 1,5m. Tuổi của địa hình được xét theo mổi tương quan chung với địa mạo khu vực và được xếp vào Pleixtoxen giữa – muộn.
- Tích tụ hỗn hợp
- Tích tụ hỗn hợp sông-biển, tuổi pleistocen muộn (amQ13)
Dạng tích tụ này thường ở cửa sông ven biển, nơi tương tác giữa sông và biển. Trong vùng nghiên cứu phân bố ở khu vực ven rìa chân núi ở độ cao 40-50m, thành phần gồm bột, cát, sét màu nâu vàng, nâu đỏ. Nhiều dạng địa hình được xếp vào dạng nguồn gốc tích tụ hỗn hợp do chúng chịu tác động của cả sông và biển hoặc cả dòng tạm thời và dòng thường xuyên.
Đáng kể đến là các nón phóng vật hay gọi là tích tụ deluvi-proluvi cổ (dpQ), dạng địa hình này chưa được xác định tuổi cụ thể, tuy chúng khá phổ biến, một số nơi đã tạo thành địa hình dạng đồi thấp bám vào ven chân núi như ở thượng lưu sông Uông-Uông Bí hoặc ven chân sườn nam dãy núi Yên Tử dọc thung lũng Thượng Yên Công.
- Tích tụ hỗn hợp sông-biển –đầm lầy, tuổi (ambQ23),
Dạng tích tụ này có thể thấy ở các độ cao khác nhau, đang bị ảnh hưởng bởi thủy triều, bị ảnh hưởng theo mùa, và thoát khỏi ảnh hưởng của thủy triều. Loại tích tụ đầu tiên ở độ cao 0,5m, khu vực Quảng Yên, Phả Lại, cửa sông Bạch đằng, ngoài ra còn phân bố thành mảnh nhỏ dọc bờ biển Tiên Yên- Móng Cái. Chúng là những vùng bị nhiễm mặn cao (trên 0,4%) do nước biển tràn qua bề mặt một cách thường xuyên, khả năng thoát nước của đất kém và bề mặt bị cắt xẻ nhiều do các hệ thống lạch triều nên không thuận lợi cho canh tác nông nghiệp mà chỉ phù hợp cho việc làm muối hoặc trồng cói. Thời gian hình thành kiểu đồng bằng tích tụ này diễn ra vào Holoxen muộn (Q23) tức là vào khoảng 500-700 năm trở lại đây ứng với thời kỳ Nhà Trần đắp đê duyên hải ra biển (năm 1248).
Dạng khác của tích tụ hỗn hợp sông-biển-đầm lầy tạo thành đồng bằng tích tụ bị ảnh hưởng triều theo mùa không thường xuyên có bề mặt cao 0,8 m so với mực nước biển trung bình, phân bố chủ yếu ở Thuỷ Nguyên, Kiến An, Uông Bí, Hoành Bồ, khu vực đảo Đồng Rui, Tiên Yên và ven bờ biển Móng Cái dưới dạng các dải hẹp chạy dọc theo ven bờ biển hoặc ở phần cao của các đảo. Quá trình nhiễm mặn đất ở dạng đồng bằng này là do thẩm thấu của nước ngầm và nước sông đưa lên vì vậy độ mặn ít nhiều phụ thuộc theo mùa. Vào mùa mưa nước bề mặt nhiều, nước sông lớn đã đẩy lưới mặn trong vùng ra ngoài xa nên đất bị mặn ít, ngược lại vào mùa khô lưới mặn xâm nhập sâu vào nội địa qua các dòng sông và lạch triều, tạo điều kiện cho quá trình nhiễm mặn tăng lên, ngoài ra mức độ nhiễm mặn nhiều, ít còn phụ thuộc vào thời kỳ triều cường hay triều kiệt. dạng địa hình này đến nay ít được bồi đắp, các trầm tích sét, sét pha cấu tạo nên đồng bằng là các thành tạo đầm lầy sôngbiển được tích tụ vào thời gian Holoxen muộn (Q23) thuộc hệ tầng Thái Bình.
Dạng thứ 3 tích tụ sông-biển-đầm lầy tạo nên đồng bằng tích tụ biển thoát khỏi ảnh hưởng triều. Phân bố rộng rãi ở khu vực thị trấn Móng Cái, huyện Thuỷ Nguyên, hay khu vực đảo Hà Nam do tác động của con người đắp đê ngăn bao quanh. Đồng bằng này có độ cao 1-2m, bằng phẳng, cấu tạo chủ yếu bột, cát pha, sét bột thuoc hệ tầng hải Hưng có tuổi Holoxen sớm giữa (Q21-2). Đồng bằng này hoàn toàn không chịu ảnh hưởng của triều bởi địa hình cao và nằm phía trong đê.
c.Tích tụ hỗn hợp sông-biển, tuổi (amQ21-2)
Dạng tích tụ này có thể chia làm 2 dạng, bãi tích tụ do sông đóng vai trò thống trị. Kích thước bãi rất lớn có hình dạng vòng cung lồi ra biển, biểu hiện nguồn cung cấp phù sa dồi dào từ các cửa sông đưa ra. Mặc dù nằm trong vùng sụt lún có tốc độ 1,8-2,0 mm/năm, nhưng hàng năm bãi vẫn bồi tụ, lấn ra biển 50-100m, hệ thống các cồn ngầm và bar trước cửa sông phát triển làm cho sông phân nhánh. Chu kỳ để các bar và bãi nổi cao trên mặt nước là 12-15 năm . Cấu tạo trầm tích của bãi và các bar có cấu tạo xiên chéo. Đây là dấu hiệu mà Wight (1977) và G.Allen (1979) xác định vai trò của sông thống trị trong việc thành tạo nên địa hình vùng cửa sông.
Bãi tích tụ sông biển do triều đóng vai trò thống trị phân bố trước cửa sông hình phễu Bạch Đằng. Chúng được hình thành trong điều kiện bù trừ âm giữa cán cân bồi tích và quá trình sụt lún kiến tạo. Dòng triều ở đây đạt tốc độ lớn, khi thì chỉ 30-40cm/s nhưng có khi lên tới 50-65cm/s. Thời gian triều lên và triều xuống xấp xỉ nhau, tốc độ triều rút lớn, mặt khác biên độ triều cũng lớn tạo ra khả năng phân tán bồi tích trong vùng. Ngoài ra sóng trong vụng này có chiều cao nhỏ (dưới 1,0 W) và năng lượng sóng chỉ đạt 0,05- 0,04 kg/cm2. Khác với bãi thành tạo do sông, bãi tạo thành do triều có kích thước nhỏ hẹp, kéo dài vuông góc với bờ và song song với hướng dòng chảy của sông, phù hợp với hướng phân bố bán trục dài của elíp triều vùng cửa sông. Trầm tích cấu tạo bãi ngoài thành phần là cát do phù sa sông cung cấp, tỷ lệ sét do triều bồi đắp chiếm tỷ lệ khá lớn (30-50%, có nơi 70%), do đó nhiều nơi là bãi triều lầy, đa số trầm tích có cấu tạo định hướng.
- Tích tụ deluvi-proluvi, tuổi Đệ tứ không phân chia (dpQ)
Dạng tích tụ này thường quan sát được ven chân sườn núi, nhiều khi tích tụ tạo những quả đồi thấp có độ cao tương đối 30- 50m, khi làm đường bạt taluy thấy rõ dạng cấu tạo hỗn độn là tảng, cục lẫn bột, sét, cát. Nguồn gốc tích tụ thường từ trên sườn, do các dòng tạm thời mang xuống chân sườn. Khi tồn tại thành những quả đồi cho thấy tích tụ này hình thành khá cổ tạo thành kiểu mảnh thềm sát chân núi, sau đó bị xâm thực-bóc mòn chia cắt, còn sót lại như chúng ta thấy ngày nay.
- Tích tụ aluvi-proluvi, tuổi đệ tứ không phân chia (apQ)
Dạng tích tụ này liên quan đến dòng tạm thời và dòng thường xuyên, trong thành phần hỗn độn kích thước cuội có cả những cuội đa thành phần kích thước nhỏ.

Hình 6. Sơ đồ địa mạo quần thể danh thắng và di tích Yên Tử, thu từ tỷ lệ 1: 200.000. (Nguồn: Nguyễn Xuân Nam và nnk, 2021)

III.TIỀM NĂNG CÁC DI SẢN ĐỊA MẠO VÙNG NGHIÊN CỨU
1. Khái niệm di sản Địa mạo
Có thể hiểu di sản địa mạo là các dạng địa hình độc đáo, có tính thẩm mỹ, chiêm ngưỡng, thưởng ngoạn. Các điểm di sản địa mạo tạo nguồn cảm hứng sáng tạo cho con người và cũng thu hút lượng khách du lịch lớn. Do vậy, nghiên cứu di sản địa mạo cần tập trung vào những khu vực có cảnh quan, thắng cảnh đẹp, đặc biệt những khu vực có mối liên hệ với lịch sử văn hóa, sẽ càng nâng cao vị thế của di sản địa mạo. Về mặt khoa học di sản Địa mạo phải thể hiện được những bằng chứng, dấu ấn về quá trình hình thành và phát triển của khu vực nói chung, lịch sử tiến hóa địa hình một vùng nói riêng.
Đối tượng nghiên cứu của địa mạo phục vụ cho gìn giữ, bảo tồn các dạng địa hình độc đáo là các vùng có khả năng trở thành các điểm du lịch Địa chất. Chúng tôi thống nhất với khái niệm di sản địa mạo đã được GS. Lê Đức An, 2016 nêu ra “Di sản Địa mạo là những yếu tố, dạng địa hình hoặc tập hợp của chúng tạo nên những thắng cảnh, những kỳ quan, chúng phản ánh rõ những quá trình địa mạo nội, ngoại sinh trong quá khứ và hiện tại, điều kiện cổ địa lý cũng như lịch sử phát triển bề mặt thạch quyển khu vực, đồng thời chúng phải bảo đảm được các giá trị chính, giá trị cho nghiên cứu khoa học về trái đất, giá trị cho giáo dục và thưởng ngoạn thẩm mỹ của con người và trong một số điều kiện nhất định là giá trị về kinh tế.”
Các di sản địa mạo (DSĐM) có kích thước khác nhau về quy mô, có thể là chỉ là bậc thềm sông trong mối liên hệ để lập lại dòng chảy một con sông, một khối núi sót trong mối liên hệ một bề mặt bóc mòn cổ. Nghĩa là nó có thể riêng rẽ hay một tập hợp của các DSĐM thành phần tạo nên giá trị khoa học, thẩm mỹ cho một vùng.
Với định nghĩa về di sản địa mạo đã nêu trên, việc xác lập di sản địa mạo sẽ bao gồm dạng địa hình bóc mòn, dạng địa hình tích tụ và được lựa chọn gắn liền với các di sản văn hóa, đảm bảo giá trị về khoa học, giáo dục và thưởng ngoạn.
2. Tiêu chí xác định di sản Địa mạo
Tiêu chí đánh giá di sản địa mạo dựa trên 5 tiêu chí:
– Tính thẩm mỹ (cảnh quan đẹp)
– Giá trị khoa học (dấu ấn ghi lại lịch sử phát triển địa hình)
– Giá trị kinh tế (tiềm năng khai thác sử dụng)
– Khả năng kết hợp với giá trị văn hóa-lịch sử
– Tính giáo dục (cảnh quan tự nhiên + văn hóa, lịch sử)
Bảng 1. Bảng tổng hợp một số di sản địa mạo điển hình trong vùng nghiên cứu
| TT | Số hiệu | Tên điểm di sản | Địa điểm phân bố | Tọa độ | Mô tả chi tiết | Kiểu di sản | ||
| X (m) | Y (m) | Z (m) | ||||||
| 1 | 210 | Bến Đò Rừng cổ | Phường Yên Giang, TX. Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. | 684421 | 2316806 | 2 | Bến đò nằm trong khu vực đền thờ Trần Hưng Đạo kết nối lạch sông cắt vuông góc với sông Bạch Đằng, chịu ảnh hưởng của thủy triều, chỉ ngập nước khi thủy triều lên, chênh cao với mực nước sông Bạch Đằng khoảng 3m, tàu lớn có thể đi ngoài sông trong khi lạch nước cạn. Bao quanh lạch nước có thực vật nước lợ phát triển tạo cảnh quan đẹp. Bến đò là gò đất cao hình thành do hoạt động tích tụ trầm tích hỗn hợp sông -biển trong giai đoạn sau Holocen giữa. Truyền thuyết dân gian ghi nhận bến đò rừng cổ có cây Quyêch tuổi trên 700 năm là nơi vua Trần Hưng Đạo đã được Bà bán nước ở bến đò chỉ dẫn các thông tin về luồng lạch sông Bạch Đằng để nhà vua bố trí lực lượng làm nên trận chiến thắng Bạch Đằng năm 1288. Thực tế di tích này đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 2007. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo. | Địa mạo (B) |
| 2 | 211 | Bãi cọc Yên Giang | Đầm Nhử, Phường Yên Giang, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. | 685489 | 2316115 | 0,7 | Bãi cọc Yên Giang nằm cách sông Chanh 350m về phía nam, cách sông Bạch Đằng 850m về phía tây, bãi cọc tọa lạc trên đồng cói ngập nước, ngăn cách với sông Chanh bởi con đê cao 3m, bên ngoài đê sát sông Chanh phát triển thực vật nước lợ, cây khá cao, tươi tốt làm đê chắn sóng cũng như giữ đất bồi ven sông. Địa tầng của khu bãi cọc có nhiều lớp thể hiện đa dạng môi trường tích tụ trong Holocen, từ trên xuống là lớp đất xám đen lẫn xác thực vật thể hiện môi trường đầm lầy, tiếp đến là lớp cát , bột sét màu nâu vàng thể hiện môi trường trầm tích sông, đến > 1m là đất sét màu xám xanh là tích tụ biển hình thành trong môi trường vũng vịnh vào giai đoạn Holocen giữa-muộn. Khu vực được quy hoạch tham quan thu hút nhiều du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo. | Địa mạo – Cổ môi trường (C) |
| 3 | 213 | Cảnh quan Quảng Yên | chùa Bồng Thượng, núi Hòn Nứa, Quảng Yên | 687962 | 2322898 | 18 | Núi thấp Hòn Nứa có đỉnh bằng, sườn thoải cấu tạo từ các tầng đá trầm tích như cuội kết, cát kết, trầm tích phun trào-cát kết tuf. Chùa Bồng Thượng tọa lạc ở sườn núi độ cao khoảng 50m, tại đây có thể quan sát cảnh quan khu vực Quảng Yên với sông Chanh, sông Bạch Đằng và khu vực núi đá vôi Tràng Kênh (Hải Phòng). Vị trí này có thể xây dựng thành 1 điểm quan sát cảnh quan địa thế vùng Quảng Yên và liên hệ với trận chiến Bạch Đằng năm 1288. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo. | Địa mạo (B) |
| 4 | 214 | đền Trần Hưng Đạo | Phường Yên Giang, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. | 684613 | 2317335 | 0,8 | Đền Trần Hưng Đạo được tôn tạo mới, có cảnh quan đẹp đã được xếp hạng di tích đặc biệt Quốc Gia. Đền tọa lạc trên khu đất cao là bãi bồi cao của sông Bạch Đằng, cách luồng giao thông chính của sông khoảng 300m, từ bờ sông vào đên chân đền là bãi bồi thấp có thực vật nước lợ phát triển xanh tốt vừa là chắn sóng giữ đất bồi, vừa tạo cảnh quan cho khu đền. kết hợp với bến đò rừng cổ, miếu Bà đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo. | Địa mạo (B) |
| 5 | 215 | Đình Yên Giang | Phường Yên Giang, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. | 686604 | 2316951 | 1 | Tọa lạc trong khu dân cư ở độ cao tuyệt đối 1m, tương ứng với bãi bồi cao, cách sông Bạch Đằng 1,8km về phía tây, sông Chanh 1,2 km về phía nam. Đình có hướng chính tây 270o, đã được đánh dấu trên bản đồ UTM 1965, như vậy Đình tồn tại trước đền thờ Trần Hưng Đạo và miếu Bà. Hiện tại khu vực phía bắc Đình Yên Giang vẫn còn dấu tích môi trường đầm lầy với tích tụ hỗn hợp sông-biển-đầm lầy, cao hơn khoảng 0,5m là tích tụ cát,bột màu nâu vàng nguồn gốc sông-biển. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo – Cổ môi trường (C) |
| 6 | 216 | Đền Trung Cốc | Khu Đồng Cốc, xã Nam Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh | 685943 | 2314899 | 0,8 | Đền Trung Cốc tọa lạc trên bãi bồi cao với đất bột, cát pha sét màu xám, phần ruộng thấp hơn bên cạnh Đền lộ đất bột sét màu xám đen. Đền Trung Cốc cách sông Bạch Đằng 1,8 km về phía tây, cách di vết lòng sông cổ (không tên) khoảng 150m về phía bắc, lòng sông cổ này là một nhánh sông nhỏ liên thông với sông Bạch Đằng. Đền Trung Cốc có giá trị lịch sử đã được xếp hạng Quốc Gia, về địa mạo thuộc nguồn gốc tích tụ hỗn hợp sông-–biển. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo -Cổ môi trường (C) |
| 7 | 217 | Đình Trung Bản | Thôn Trung Bản, xã Liên Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh | 689593 | 2312266 | 0,6 | Đình tọa lạc ở khu đất cao, là bãi bồi cao cấu tạo bởi cát, bột màu xám, cách sông Chanh 900m về phía đông bắc. Mặt tiền Đình quay về hướng tây nam (2300) nhìn ra sông Bạch Đằng. Đền có giá trị lịch sử đã được xếp hạng Quốc Gia, về giá trị địa chất nguồn gốc tích tụ hỗn hợp sông-biển tuổi Holocen muộn. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo. | Địa mạo, Cổ môi trường (C) |
| 8 | 219 | Thềm sông
Xóm 4. |
xóm 4 xã Hiệp Hòa, TX Quảng Yên, Quảng Ninh | 685087 | 2317773 | 1 | Thềm sông cấu tạo bởi cát, sạn hạt mịn màu nâu vàng, bề mặt cao hơn mực nước sông 1,5m, di sản địa mạo nguồn gốc tích tụ sông tuổi holocen giữa. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B), cổ môi trường (C) |
| 9 | 233 | Bãi cọc Đồng Mả Ngựa | bãi cọc đồng Má Ngựa, xã Nam Hòa, TX Quảng Yên | 686491 | 2313529 | 1,5 | Tích tụ sông – biển – đầm lầy phủ trên trầm tích vũng vịnh là sét xám xanh. Đã quy hoạch tham quan và có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo, Cổ môi trường |
| 10 | 240 | Miếu Bá Uông Bí | miếu Vua Bà, TP.Uông Bí | 685258 | 2327163 | 1 | Miếu tọa lạc trên nền tích tụ lũ tích cổ, cảnh quan đẹp. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Cổ môi trường |
| 11 | 260 | Karst tràng kênh | Khu di tích Bạch Đằng Giang, Thủy Nguyên, HP | 682576 | 2319537 | 8 | Cảnh quan karst -địa hình hòa tan -rửa lũa. Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B) |
| 12 | 262 | Bãi cọc Cao Quỳ | Bãi cọc Cao Quỳ, Thủy Nguyên, Hải Phòng | 671853 | 2324522 | 1 | Tích tụ sông-biển-đầm lầy (ambQ) phủ trên tích tụ vũng vịnh. Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Cổ môi trương |
| 13 | 270 | Kỳ quan mới chùa Đồng | chùa Đồng, xã Thượng Yên Công, Uông Bí, Qninh | 677849 | 2341022 | 1064 | Địa hình đơn nghiêng với cuội kết, TN 150/20. Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B) |
| 14 | 272 | Chùa Vân Tiêu | chùa Vân Tiêu, xã Thượng Yên Công | 678112 | 2340299 | 737 | Địa hình bóc mòn, sườn lồi ở phía sườn nam núi Yên Tử. Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B) |
| 15 | 273 | Chùa Bảo Sái | chùa Bảo Sái, xã Thượng Yên Công, Uông Bí, QN | 678270 | 2340421 | 754 | Vách đứt gãy tạo hang hàm ếch ở sườn nam núi Yên Tử. Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo, Kiến tạo (I) |
| 16 | 274 | Hang Một Mái | chùa Một Mái, xã Thượng Yên Công, Uông Bí, QN | 678255 | 2340143 | 559 | Hàm ếch phát triển trong đá cuội kết ở sườn nam núi Yên Tử. Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B) |
| 17 | Chùa Hoa Yên | Chùa Hoa Yên | 678245 | 2340113 | 520 | Bề mặt san bằng trên sườn nam núi Yên Tử. Cảnh quan đẹp. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B) | |
| 18 | 278 | Thiền viện Trúc Lâm | Thiền Viện Trúc Lâm, xã Thượng Yên Công | 679406 | 2235203 | 92 | Cảnh quan địa mạo, địa hình bóc mòn tổng hợp. Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B) |
| 19 | 280 | Chùa Giải Oan | chùa Giải Oan, xã Thượng Yên Công | 678621 | 2338760 | 129 | Cảnh quan tích tụ sườn tích. Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo, Cổ môi trương |
| 20 | 284 | Chùa Cầm Thực | chùa Cầm Thực, xã Thượng Yên Công, Uông Bí, QN | 678225 | 2332882 | 136 | Cảnh quan địa hình bóc mòn; Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B) |
| 21 | 285 | Chùa Suối Tắm | chùa Suối Tắm, xã Thượng Yên Công, Uông Bí, QN | 677983 | 2331754 | 88 | Cảnh quan địa hình bóc mòn; Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B) |
| 22 | 286 | Chùa Quán | thôn Đạm Thủy, xã Thủy An, TX Đông Triều, Quảng Ninh. | 654167 | 2332292 | 52 | Cảnh quan địa hình bóc mòn’ Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B) |
| 23 | 95 | Chùa Ngọa Vân | Nui Bảo Đài, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh | 664261 | 2341871 | 520 | Cảnh quan địa hình bóc mòn Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B) |
| 24 | 94 | Núi Đá Chồng | Thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh | 663715 | 2342581 | 480 | Bề mặt san bằng; cảnh quan đẹp; Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B) |
| 25 | 92 | Chùa Hồ Thiên | Núi Phật Sơn, TX Đông Triều, Quảng Ninh | 668339 | 2341580 | 420 | Cảnh quan địa hình bóc mòn, đổ lở; Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B) |
| 26 | 287 | Hy Lăng | Hy Lăng, thôn Đạm Thủy, xã Thủy An, TX.Đông Triều | 654142 | 2332441 | 25 | Deluvi, đá cát kết TN 360/40; Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Văn hóa |
| 27 | 288 | Chùa Bác Mã | chùa Bác Mã, thôn Bác Mã, xã Bình Dương, Đông Triều, QN | 653831 | 2335232 | 12 | Thềm sông tuổi Pleistocen muộn; Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B), cổ môi trường (C) |
| 28 | 293 | Lăng Tư Phúc | lăng Tư Phúc, thị xã Đông Triều | 659650 | 2336702 | 77 | Địa hình bóc mòn rửa trôi, đồi thấp thoải, đỉnh bằng; Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo |
| 29 | 294 | Thái Miếu | Thái Miếu, thị xã Đông Triều, Qninh | 660766 | 2337411 | 27 | Địa hình bóc mòn rửa trôi, tích tụ Deluvi, đá gốc lộ ven chân đồi; Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo |
| 30 | 295 | Ngải Sơn Lăng | Ngải Sơn lăng, thị xã Đông Triều | 660479 | 2337659 | 45 | Bề mặt tích tụ ven chân núi, Pediment; Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B) |
| 31 | 298 | Chùa Trung Tiết | chùa Trung Tiết, TX Đông Triều, QN | 660351 | 2336160 | 9 | Thềm bậc I; Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo, Cổ môi trường |
| 32 | 2009 | Đền Kiếp Bạc | đền Kiếp Bạc, TP Chí Linh | 637687 | 2339527 | 14 | Thềm sông bậc I, sông Thương ; Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo, Cổ môi trường |
| 33 | 2012 | Chùa Sùng Nghiêm | chùa Sùng Nghiêm, Phả Lại, TP Chí Linh | 638069 | 2336066 | 29 | tọa lạc ở chân sườn đồi đá cuội sạn kết, TN 25/10; Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B) |
| 34 | 2016 | Đền thời Chu Văn An | đền thờ Chu Văn An, TP Chí Linh, Hải Dương | 640732 | 2336789 | 88 | Deluvi, địa hình bóc mòn, đá cát sạn kết; Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B) |
| 35 | 2018 | Chùa Thanh Mai | chùa Thanh Mai, xã Hoàng Hoa Thám, TP Chí Linh | 651679 | 2347006 | 211 | vỏ phong hóa trên đá cuội kết, bột kết TN 345/50; Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo, Cổ môi trường (C) |
| 36 | 2024 | Chùa Trung Quê | chùa Trung Quê, thôn Trung Quê, xã Lê Lợi, TP Chí Linh, Hải Dương | 642237 | 2342903 | 17 | Thềm sông bậc I; Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Cổ môi trường |
| 37 | 2025 | Hồ Côn Sơn | Phía TN hồ Côn Sơn, phường Cộng Hòa, TP chí Linh, Hải Dương.. | 641183 | 2339733 | 14 | Trầm tích vũng vịnh, sét xám xanh, cảnh quan đẹp; Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Cổ môi trường |
| 38 | YT301 | Chùa Bổ Đà | Thôn Thượng Lát, xã Yên Sơn, Việt Yên, Bắc Giang | 609113 | 2349397 | 27 | Thềm biển, đồi bóc mòn rửa trôi; Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B) |
| 39 | YT 302/1 | Vũng Tròn-KBTTN Khe Rỗ | xã An Lạc, Sơn Động, Bắc Giang | 704264 | 2361119 | 89 | Cảnh quan địa hình xâm thực, tích tụ; cảnh quan đẹp. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B) |
| 40 | YT 346 | Thác Suối Mỡ | Xã Nghĩa Phương, Lục Nam, Bắc Giang | 653938 | 2352291 | 73 | Các tập cát kết, cát sạn kết, cuội kết hạt nhỏ-vừa có cấu tạo đơn nghiêng. Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo, Kiến tạo (I) |
| 41 | YT 354 | Động hang Non | xã Cẩm Lý,Lục Nam, Bắc Giang | 643123 | 2354163 | 27 | Hang động karst: hang hóa thạch; Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B), Kiến tạo (I) |
| 42 | YT 364 | Thiền viện Trúc Lâm Phượng Hoàng | núi Nham Biền, TT Nham Biền, Yên Dũng, Bắc Giang | 627377 | 2345725 | 109 | Sườn bóc mòn tổng hợp trên đá lục nguyên: cát kết, bột kết; Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B) |
| 43 | YT 375 | Chùa Mộ và hang chùa Mộ | Xã Tân Dân, TX Kinh Môn, Hải Dương | 662191 | 2327890 | 20 | Cảnh quan karst và dấu vết tương tác giữa biển và lục địa; Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B), Kiến tạo (I) |
| 44 | YT 382 | chùa Nhẫm Dương | xã Nhẫm Dương, Kinh Môn, Hải Dương | 659626 | 2327299 | 5 | Cảnh quan địa hình karst, dấu vết tương tác lục địa-đại dương. Đã quy hoạch tham quan có du khách. Đáp ứng các tiêu chí di sản địa mạo | Địa mạo (B), Kiến tạo (I) |
MỘT SỐ ẢNH DI SẢN ĐỊA MẠO TRONG VÙNG NGHIÊN CỨU
![]() |
![]() |
![]() |
Ảnh 1. Bãi cọc Yên Giang (mũi tên đỏ),dạng địa hình tích tụ nguồn gốc hỗn hợp sông, biển, đầm lầy. (nguồn: Zing) |
Ảnh 2. Thềm biển Vĩnh Phúc (mQ13), tại điểm YT.236. (nguồn: N.X.Nam, 2021) |
Ảnh 3.. Địa hình karst sót (hòn gà chọi trên cạn): 1-Mặt khe nứt nhẵn; 2-Hang hóa thạch, tại Kinh Môn, Hải Dương (Nguồn: NX.Nam, 2021) |
![]() |
![]() |
![]() |
Ảnh 4. Hai ngấn nước tại chân núi đá vôi Hang Chùa Mộ, xã Tân Dân, Kinh Môn, Hải Dương. (nguồn: NX.Nam, 2021) |
Ảnh 5. Giếng trời trong Hang Chùa Mộ, xã Tân Dân, Kinh Môn, Hải Dương (Nguồn: NX. Nam, 2021) |
Ảnh 6. Cảnh quan địa hình bóc mòn (dãy núi Yên Tử) nhìn từ khu vực Quảng Yên, Quảng Ninh. (Nguồn: NX. Nam, 2021) |
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu đặc điểm địa mạo và tiềm năng di sản địa mạo quần thể danh thắng và di tích Yên Tử chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
- Khu vực ven rìa dãy núi Yên Tử có tiềm năng về di sản địa mạo với địa hình bóc mòn, địa hình tích tụ và địa hình karst với dạng địa hình đá vôi có đỉnh và sườn gồ ghề đối lập hoàn toàn với một bên là địa hình có đỉnh và sườn mềm mại. Đặc biệt có các bậc thềm biển mài mòn, tích tụ, các ngấn sóng biển trong Pleistocen và Holocen, các lạch triều hiện nay cũng có liên hệ với các dòng sông cổ đã từng tồn tại khi biển thoái ra tận ngoài khơi xa hơn khu vực hiện tại, các trầm tích của lòng sông cổ còn sót lại
- Khu vực Yên Tử tỉnh Quảng Ninh có các dạng địa hình núi thấp bóc mòn, đồi bóc mòn rửa trôi, đồng bằng tích tụ hỗn hợp, các vị trí di tích đình, đền nằm trên các gò đất cao là các bãi bồi cao, bậc thềm sông, thềm biển. Đặc biệt khu vực sườn và chân núi dãy Yên Tử có địa hình núi thấp bóc mòn, đặc biệt có dạng địa hình bóc mòn kiến trúc, tạo địa hình đơn nghiêng rất đặc biệt. Chùa Đồng đặt trên vị trí đỉnh đơn nghiêng cao nhất quả là một kỳ quan nhân sinh, tuy nhiên tiềm ẩn nguy cơ tai biến địa chất rất cao do đá nền phân lớp và sẽ bị trượt theo mặt lớp khi bị các chấn động kiến tạo nội sinh. Các chùa nổi tiếng tọa lạc trên sườn núi, làm nên danh thắng di tích Yên Tử đều tọa lạc ở bề mặt san bằng 400-600m (chùa Hoa Yên, chùa Vân Tiêu, chùa Ngọa Vân, chùa Hồ Thiên), một số chùa ở vị trí hiểm yếu như chùa Một Mái, chùa Bảo Sái đều được phát triển từ các Am, do các lớp đá bị sập đổ tạo hàm ếch. Các chùa ở vị trí thấp hơn như chùa suối Tắm, chùa Cầm Thực, thiền viện Trúc Lâm đều tọa lạc trên tích tụ eluvi, deluvi tạo trên sườn đồi, núi thấp. Điểm đặc biệt tại chân sườn phía nam dãy Yên Tử có rất nhiều vạt tích tụ sườn-lũ tích (dpQ) chứng tỏ năng lượng sườn địa hình rất lớn ở khu vực này.
- Quần thể danh thắng Yên Tử có các di sản địa mạo và có tiềm năng khai thác các di sản địa mạo nói riêng, di sản địa chất nói chung. Giá trị của chúng được nâng cao hơn nữa khi nơi đây ẩn chứa nhiều di tích lịch sử, văn hóa ghi nhận những chiến công vang dội trong cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta. Quần thể danh thắng và di tích Yên Tử đáp ứng tiêu chí (v) về giá trị nổi bật toàn cầu: “ Là ví dụ nổi bật về một hình thức cư trú truyền thống của con người, việc sử dụng đất đai hay khai thác biển cả, đại diện cho một (hay nhiều) nền văn hoá, hoặc sự tương tác giữa con người và môi trường..”.
Lời cảm ơn: Tập thể tác giả xin chân thành cảm ơn, Sở KH&CN tỉnh Quảng Ninh, đã cấp kinh phí thực hiện nhiệm vụ KH&CN “Nghiên cứu các đặc điểm, giá trị địa chất – địa mạo và đa dạng sinh học Quần thể Di tích và Danh thắng Yên Tử”. Chúng tôi xin cảm ơn chủ nhiệm nhiệm vụ PGS.TS Trần Tân Văn đã góp ý kiến cho phép thu thập tài liệu để công bố bài báo này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Trần Văn Trị, Lê Đức An, Lại Huy Anh, Trần Đức Thạnh, Tony Waltham, 2003. Di sản thế giới Vịnh Hạ Long. Những giá trị nổi bật về địa chất. TC Địa chất, A/277: 6-20. Hà Nội.
- Trần Đức Thạnh, Lê Đức An, Nguyễn Hữu Cử, Trần Đình Lân, Nguyễn Văn Quân, Tạ Hòa Phương, 2012. Biển đảo Việt Nam – Tài nguyên vị thế và những kỳ quan địa chất, sinh thái tiêu biểu. Nxb. Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội, 324 tr.
- Phạm Văn Hoàn và nnk, 2008. Địa chất và tài nguyên khoáng sản tỉnh Hải Dương. UBND tỉnh Hải Dương-Hội Địa chất-Sở khoa học và công nghệ.
- Nguyễn Xuân Nam và nnk, 2021. Báo cáo chuyên đề “đặc điểm địa hình, địa mạo và tiềm năng di sản địa mạo khu di tích lịch sử và quần thể di tích và danh thắng Yên Tử”. thuộc đề tài KHCN cấp tỉnh Quảng Ninh: “Nghiên cứu các đặc điểm, giá trị địa chất-địa mạo và đa dạng sinh học quần thể di tích và danh thắng Yên Tử”.
- Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Hữu Cử, Đinh Văn Huy, 2011. Nguyên nhân và điều kiện thành tạo các ngấn hàm ếch quanh các đảo đá vôi ở Vịnh Hạ Long. Hội nghị KH và CN biển toàn quốc lần V, quyển 3-Địa lý, địa chất, địa vật lý biển, tr 608-617; Nxb KHTN&CN, Hà Nội.
- Nguyễn Công Lượng, 2001. Địa chất và khoáng sản tờ Hạ Long-Móng Cái, tỷ lệ 1:200.000. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội.
- Nguyễn Chu Hồi, 2005. Cơ sở Tài nguyên và Môi trường biển. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 306 tr.
- Lê Đức An, 2010. Bàn về vị thế của đới bờ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Tuyển tập báo cáo khoa học: Hội nghị khoa học Địa lý Toàn quốc lần thứ 5. Hà Nội, 19/6/2010. Nxb. Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội, 1007-1016.
- Lê Đức An (chủ biên), Uông Đình Khanh, 2012. Địa mạo Việt Nam- Cấu trúc-Tài nguyên-Môi trường. Nxb. Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội, 659 tr.
GEOMORPHOLOGICAL CHARACTERISTICS AND GEOMORPHOLOGICAL HERITAGE POTENTIAL OF YEN TU RELICS AND LANDSCAPES
Nguyen Xuan Nam1, Tran Tan Van1, Doan Thi Ngoc Huyen1, Doan The Anh1, Do Van Thang1, Nguyen Dinh Tuan1, Le Anh Phuong1, Nguyen Thi Lan1, Tran Ngoc Yen1, Cao Thi Huong1, Hoang Xuan Duc1, Pham Thi Thuy1
1Vietnam center on Karst and Geological Heritage
Abtract:
The Yen Tu relic and landscape complex is located in Quang Ninh province and part of Bac Giang and Hai Duong provinces, an area of important historical, cultural and natural landscape significance. This area is not only famous for its cultural relics but also has unique geomorphological values, reflecting the history of the geological development of the area. Geomorphological research based on the principle of origin identifies 3 types of origin: Erosion, dissolution-washing and accumulation. In which, the erosion origin develops in low mountain and hilly terrain. The accumulation origin develops in valleys between mountains, mountain slopes, common in the plains. The dissolution-washing origin develops in limestone terrain.
The Yen Tu relic and landscape complex has the potential of geomorphological heritage with scientific value, providing information on the geological history and the development process of the area’s terrain, and is evidence for terrain improvement activities in the context of the Northeast region. The landscape value includes mountain peaks, valleys, streams and waterfalls, creating a majestic natural landscape that attracts tourists. The unique terrain structure combined with primeval forests creates a diverse ecosystem. The tourism and conservation value has the potential to develop ecotourism, mountain climbing, scientific research and education.
Yen Tu relic and landscape complex is an area with unique geomorphological values with great potential for geomorphological heritage in particular and geology in general. Research, conservation and reasonable exploitation of geomorphological heritage values will contribute to the sustainable development of tourism and protection of the natural landscape of this area.
Keywords: Yen Tu Geomorphology; Geomorphological Heritage; Yen Tu Potential.
Acknowledgements: The authors would like to thank the Department of Science and Technology of Quang Ninh province for providing funding for the implementation of the scientific and technological task “Research on the characteristics, geological and geomorphological values and biodiversity of the Yen Tu Monuments and Landscape Complex”. We also would like to thank the project leader, Associate Professor, Dr. Tran Tan Van, for his comments and permission to collect documents to publish this article.
VCKG Trung tâm Karst và Di sản địa chất





