VĂN HÓA ÓC EO TRONG HỆ THỐNG SƠN VĂN-THỦY ĐỊA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG (ĐBSCL)
Nguyễn Xuân Nam,1* Vũ Văn Vĩnh2 , Trần Tân Văn1, Nguyễn Thị Trường Giang3,4
1 Trung tâm Karst và Di sản Địa chất, Viện Khoa học Địa chất & KS
2 Hội địa chất TP. HCM
3 Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam
4 Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam
*0989345508, nam_nguyen_xuan@hotmail.com
TÓM TẮT:
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một châu thổ trẻ và năng động, được hình thành và phát triển liên tục dưới tác động phức tạp của sông Mê Kông và Biển Đông. Trong bối cảnh địa lý đặc biệt này, văn hóa Óc Eo, với trung tâm Óc Eo – Ba Thê (An Giang), đã phát triển từ thế kỷ I đến thế kỷ VII sau công nguyên. Óc Eo – Ba Thê không chỉ là đô thị cổ sầm uất,,trung tâm thương mại và trung chuyển Quốc tế quan trọng, mà còn là một trung tâm tín ngưỡng và kiến trúc tôn giáo quy mô lớn.
Nghiên cứu này tập trung đánh giá đặc điểm “sơn văn” và đặc điểm “thủy địa” trong bối cảnh đồng bằng châu thổ chịu ảnh hưởng bởi các đợt biển tiến, biển thoái, làm rõ mối quan hệ tương tác giữa văn hóa Óc Eo và hệ thống “sơn văn – thủy địa”. Nghiên cứu ban đầu cho thấy, chính các yếu tố tự nhiên này đã định hình sự hình thành, phát triển vượt bậc của văn hóa Óc Eo, đồng thời cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự suy tàn của nó. Sự thịnh vượng của Óc Eo gắn liền với vị trí chiến lược trên các trục thương mại, và khả năng khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Ngược lại, sự suy tàn của nền văn minh này lại có liên quan mật thiết đến những thay đổi môi trường như sự dịch chuyển, bồi lấp của hệ thống sông rạch, biến động khí hậu và dao động mực nước biển. Việc nghiên cứu nền văn hóa Óc Eo – Ba Thê không chỉ mang ý nghĩa khám phá một chương lịch sử cổ đại mà còn cung cấp những bài học quý giá về sự tương tác giữa con người và môi trường trong một vùng châu thổ năng động, mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh ĐBSCL hiện đại đang đối mặt với những thách thức môi trường tương tự.
Từ khóa: Óc Eo; Ba Thê; văn hóa Óc Eo; Đồng bằng sông Cửu Long; Sơn văn-thủy địa.
- GIỚI THIỆU
Kỷ Holocen, giai đoạn bắt đầu khoảng 10.000 – 12.000 năm trước và kéo dài đến hiện tại, chứng kiến sự xuất hiện và phát triển rực rỡ của nhiều nền văn minh lớn trên thế giới, nhưng đồng thời cũng ghi nhận những tác động ngày càng rõ rệt của con người lên môi trường tự nhiên. Ngược lại, các biến đổi của tự nhiên, đặc biệt là khí hậu và địa chất, cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hưng thịnh hay suy tàn của các nền văn minh này. Tại ĐBSCL, nền văn hóa Óc Eo đã hình thành và phát triển qua các giai đoạn sơ khai, cực thịnh và suy yếu, với các nguyên nhân suy tàn vẫn còn là chủ đề thảo luận rộng rãi.
Nghiên cứu này tiếp cận quần thể di tích Óc Eo dưới góc độ tương tác giữa con người và tự nhiên, tập trung làm rõ vai trò của hệ thống “sơn văn – thủy địa” trong việc định hình sự phát triển và suy tàn của văn hóa Óc Eo. Việc phân tích mối quan hệ phức tạp giữa chúng không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về lịch sử Óc Eo mà còn mang đến những bài học quý báu cho ĐBSCL hiện đại, vốn đang đối mặt với những thách thức môi trường tương tự như biến đổi khí hậu, nước biển dâng và thay đổi dòng chảy sông ngòi. Trọng tâm nghiên cứu là quần thể di tích Óc Eo – Ba Thê, một trung tâm then chốt của văn hóa Óc Eo ở ĐBSCL.

Hình 1. Sơ đồ tổng quan thể hiện vùng nghiên cứu (ô chữ nhật màu đen) trên nền độ cao địa hình vùng đồng bằng sông Cửu Long (Nguồn: Mô hình SRTM DEM)
- ĐẶC ĐIỂM SƠN VĂN
“Sơn văn” là khái niệm dùng để chỉ tổng thể các giá trị văn hóa, lịch sử, được hình thành trong không gian núi non (sơn), thể hiện qua cả dấu tích vật chất lẫn trầm tích văn hóa phi vật chất. Trong phạm vi nghiên cứu này, “sơn văn” được tiếp cận từ góc nhìn dạng địa hình núi-bóc mòn. Qua đó, hướng đến việc lý giải mối quan hệ giữa địa hình và phương thức cư trú, khai thác không gian của cư dân cổ trong vùng châu thổ – sơn địa đặc thù này.
Phần nổi cao của địa hình quần thể di tích Óc Eo- Ba Thê khu vực Thoại Sơn gồm 5 ngọn núi: núi Ba Thê, núi Nhỏ, núi Tượng, núi chóc, núi Trọc. Chúng nổi bật giữa sự bằng phẳng của địa hình bao quanh. Cao nhất là núi Ba Thê có chu vi khoảng 12 km, diện tích 4,3 km², cấu tạo từ đá granit bị phong hóa mạnh. Núi bao gồm 2 đỉnh giữa là yên ngựa, đỉnh ở phía TN cao khoảng 200m nơi tọa lạc chùa Sơn Tiên Tự, đỉnh thứ hai phía ĐB cao khoảng 221m, đường đỉnh núi có hình dạng nửa vòng cung như một tay ngai hướng phần lõm về phía ĐN, theo hướng này đất đá từ sườn dễ trượt lở xuống chân núi. Khu vực này về sau bị biển tiến vào tạo các thềm mài mòn và tích tụ. Người Óc Eo cổ đã đến những vị trí này để sinh sống, thờ cúng. Vật liệu xây dựng lấy chính từ những tảng, hòn granite vốn là sản phẩm của trượt lở, đổ lở, lũ bùn đá kể trên.
Rìa chân núi Ba thê, phía Đông có di tích Linh Sơn Bắc, ở độ cao khoảng 20-30m, có bề mặt tương đối bằng phẳng, có thể thềm biển Pleistocene muộn. Có 3 hố đào. Mặt cắt cơ bản toàn cát thạch anh hạt thô, lẫn vài mảnh gạch, gốm. Công trình xây ngay trên nền đá gốc là các tảng Granit bị mài mòn do biển, (thềm mài mòn). Ở hố đào phía trên, thấy một số phiến đá (có thể làm cổng hoặc cửa) lớn, được chế tác rất công phu (tạo mặt phẳng khá nhẵn, soi rãnh tạo ô, đục lỗ). Nét đặc biệt là chất liệu đá granite mầu xám hồng, hạt thô, thành phần thạch anh, biotite và các tấm feldspar K mầu hồng lớn, chắc chắn không được khai thác tại chỗ (đá tại chỗ là granite mầu xám sáng, nhiều thạch anh, ít khoáng vật màu biotite, không có feldspar K mầu hồng). Như vậy người Óc Eo không khai thác đá tại núi Ba Thê để chế tác, chỉ sử dụng các tảng đá lăn, lựa chọn những mảnh đất bằng phẳng, cao ráo (thềm) xây dựng công trình. Núi thứ 2 là núi Nhỏ, nằm liền kề núi Ba Thê về phía Tây Bắc, dạng đẳng thước đường kính 0,3km, độ cao 76m (asl) tương ứng với thềm biển Pleistocen sớm [4], bề mặt thoải, có chỗ lộ đá granit, phần lớn bị phủ bởi đất pha cát. Tại đây khảo cổ phát hiện gốm, đá, công cụ…Núi nhỏ được cho là một điểm linh thiêng phụ trợ cho trung tâm chính là núi Ba Thê. Núi thứ ba là núi Tượng nằm về phía ĐB núi Ba Thê có dạng đồi thấp đỉnh bằng, cấu tạo cùng loại đá granite như núi Ba Thê, chiều rộng khoảng 0,2 km, độ cao 64m (asl), bề mặt thềm Pleistocen giữa [4]. Bao quanh núi Tượng có hệ thống, thủy văn, giao thông đường bộ khá đặc biệt đặt núi Tượng vào tâm điểm như một kỳ đài. Núi thứ tư là núi Chọi (Trọi), nằm ở phía ĐB núi Ba Thê, cấu tạo bởi đá granite, độ cao bề mặt đỉnh khoảng 28 m, gồm tảng, hòn dị dạng, đẹp mắt, có biểu hiện bị mài mòn do sóng, khả năng đây là bề mặt thềm biển pleistocen muộn. Cuối cùng thứ năm là Núi Chóc nằm ở phía Đông núi Ba Thê, là một gò cao khoảng 21 m (asl), chu vi 550m cấu tạo bởi đá granit. Núi Chóc là một trong 5 ngọn núi của cụm Ba Thê gồm: Ba Thê, Nhỏ, Tượng, Trọi, Chóc. Bề mặt đỉnh gò chính là thềm mài mòn vào giai đoạn biển tiến Pleistocen muộn
Bảng 1. Địa hình núi bóc mòn ở quần thể di tích Óc Eo-Ba Thê
| TT | Tên núi | Độ cao | Cấu tạo | Nguồn gốc/tuổi |
| 1 | Núi Ba Thê | 221 m | Đá Granit | Bề mặt bóc mòn tuổi Pliocen muộn |
| 2 | Núi Nhỏ | 76m | Đá Granit | Thềm mài mòn Pleistocen giữa |
| 3 | Núi Tượng | 64 m | Đá Granit | Thềm mài mòn Pleistocen giữa |
| 4 | Núi Trọi | 30 m | Đá Granit | Thềm mài mòn Pleistocen muộn |
| 5 | Núi Chóc | 21 m | Đá Granit | Thềm mài mòn Pleistocen muộn |
Tất cả 5 ngọn núi vừa mô tả ở trên đều cấu tạo bởi thành tạo xâm nhập có tuổi Jura muộn – Creta (J3-K) bao gồm các đá granit, granit biotit, granosyenit biotit, thuộc nhóm đá magma axit, giàu silica – SiO₂ trên 65%), thường hình thành ở độ sâu khoảng 5 – 15 km. Như vậy kể từ khi hình thành (khoảng 200 triệu năm), trải qua các vận động kiến tạo địa chất, chúng trồi lộ ra trên bề mặt đất, chịu tác động ngoại sinh tạo nên địa hình núi Ba Thê, núi Nhỏ, núi Tượng, núi Chóc, núi Trọc. Có thể liên hệ tới một khối đá xâm nhập lớn, bị chia cắt bởi các khe nứt, đứt gãy. Tại khu vực đỉnh núi Ba Thê, gần Miếu Ông Tà, có thể quan sát thấy các hệ khe nứt kinh tuyến với thế nằm 270/80-85 độ và khe nứt cắt phương 90-100 độ, dốc đứng hoặc cắm Bắc 80-85 độ. Tại Sơn Tiên Tự (đỉnh thứ hai của núi Ba Thê), có hệ khe nứt phương Đông Bắc – Tây Nam với thế nằm 345/85 độ. Các hệ thống khe nứt này chia cắt đá magma thành những khối, tảng có kích thước khác nhau, làm suy yếu cấu trúc chung của khối núi dẫn đến hiện tượng trượt lở, đổ lở. Hiện tượng này vẫn còn thấy được trong những năm gần đây với những tảng đá lớn lăn xuống sườn và chân núi.
Sống ở khu vực núi đá người Óc Eo đã sử dụng đá trong cuộc sống như thế nào? Một số mẫu đá được thu thập ở khu vực nghiên cứu và vùng lân cận cho thấy, ngoài các đá xâm nhập (granit) còn có đá trầm tích (cát kết, sét bột kết) và đá biến chất.
Bảng2. kết quả phân tích thạch học. (Nguồn: T.T.Văn, 2025)
| TT | Ký hiệu mẫu | Kết quả phân tích thạch học |
| 1 | 25.BN.ST1 (Bảy Núi) | Granite biotite |
| 2 | 25.BN.ST2 (Bảy Núi) | Đá sừng thạch anh-albite-biotite-epidote-zoisite |
| 3 | 25.BN.ST3 (Bảy Núi) | Đá sừng thạch anh-albite-biotite-epidote-zoisite |
| 4 | 25.GC.ST1 (Giồng Cát) | Sét bột kết bị ép |
| 5 | 25.GC.ST2 (Giồng Cát) | Bazan porphyr nền dolerite |
| 6 | 25.NBT.ST (Núi Ba Thê) | Granite biotite hạt nhỏ |
| 7 | 25.NC.ST1 (Nền Chùa) | Cát kết thạch anh |
| 8 | 25.NC.ST2 (Nền Chùa) | Granosyenite |
| 9 | 25.NC.ST3 (Nền Chùa) | Diorite hạt nhỏ bị biến đổi |
| 10 | Hòn Sóc? | Granodiorite bị biến đổi |
| 11 | 25.HDT.ST (Hồ Dân Tộc) | Granite dạng porphyr |
| 12 | 25.GUA.ST (Gò Út Ảnh) | Cát kết thạch anh |
| 13 | BTOE960/Đ.320 | Sét vôi |
| 14 | BTOE475/Đ.243 | Sét bột kết bị ép |
| 15 | BTOE961/Đ.321 | Sét vôi |
| 16 | BTOE931/Đ.315 | Bột cát kết |
| 17 | 23.GDS.H1 (Gò Danh Sang) | Cát bột kết bị ép |
Từ kết quả quan sát ngoài trời và phân tích thạch học có thể thấy cơ bản có ba loại granite chính: 1/Granite xám sáng (nhiều thạch anh, ít feldspar, ít biotite) ở khu vực núi Ba Thê, núi Tượng, núi Trọi, núi Sập… 2/Granite biotite ở khu vực Bảy Núi. Tỷ lệ giữa biotite (mầu đen) và thạch anh (mầu trắng, hơi trong), feldspar (mầu trắng, hơi đục) khá cân bằng, khiến cho đá có màu trắng đen rất rõ, khác hẳn granite ở núi Ba Thê; 3/Granite biotite-feldspar K ở khu vực Hòn Sóc, với các ban tinh feldspar K mầu xám hồng lớn, khiến cho tổng thể đá có sắc hồng, khác hẳn hai loại granite trên.
Xu hướng chung cư dân Óc Eo sử dụng vật liệu tại chỗ, như các di tích ở Óc Eo-Ba Thê hay Đá Đầu Voi (Bảy Núi). Đặc biệt là dùng những tảng, hòn kích cỡ vừa phải, có thể mang vác, vận chuyển được, từ những khối đổ lở, trượt lở, dòng bùn đá gần đó. Một số di tích khác, như Nền Chùa (cảng thị), nằm ở cửa sông, ven bờ biển cổ, không gần núi, không gần các nguồn khai thác đá, thì sử dụng vật liệu đa nguồn gốc (cát kết, bột kết, granite các loại…) từ mọi nơi có thể. Các tảng, hòn đá các loại được chuyển theo các lung, kênh. Dấu vết các tuyến đường thủy này vẫn còn thấy ở Óc Eo-Ba Thê (Lung Lớn hoặc K15…), Nền Chùa hoặc Hòn Sóc…
Một mục đích khác là đẽo gọt thành các tấm lớn làm cánh cổng/cánh cửa cho các di tích hoặc xếp làm cự thạch, kích thước tới 2-3m, dầy tới 10-20cm. Như ở Đá Đầu Voi thì được đẽo từ vật liệu đá tại chỗ, nhưng ở Óc Eo-Ba Thê thì lại được làm từ granite xám hồng khai thác tận Hòn Sóc khá xa, vận chuyển khá công phu. Phải có một lý do đặc biệt nào đó để người xưa không mở công trường khai thác, cắt xẻ đá ở đây mà phải làm việc này ở nơi khác rồi vận chuyển thành phẩm đến. Rất có thể vì núi Ba Thê là núi thiêng, chỉ dành vào việc thờ cúng chăng?
Làm tượng, cả lớn (như tượng Visnu ở chùa Linh Sơn) lẫn nhỏ (như các phần tượng ở Bảo tàng Óc Eo), thì chỉ dùng sét kết, bột kết, sét vôi… là những vật liệu tương đối mềm, dễ chạm khắc; không dùng, hoặc chưa dùng được, các loại vật liệu cứng hơn, như đá granite hoặc cát kết. Có thể có một nguồn đá này ở khu vực Bảy Núi (hệ tầng Đèo Bảo Lộc), cần xác minh thêm.
- ĐẶC ĐIỂM “THỦY ĐỊA”
“Thủy địa” là khái niệm dùng để diễn tả mối quan hệ tương hỗ giữa nước (thủy) và đất (địa) trong một không gian địa lý đặc thù – cụ thể là vùng châu thổ Đồng bằng sông Cửu Long. “Thủy” đại diện cho hệ thống sông ngòi, kênh rạch, thủy triều, những yếu tố tạo nên bản sắc văn hóa và sinh kế cư dân miền sông, nước. Trong khi đó, “địa” là vùng đất tích tụ, do bồi đắp, nền tảng cho đời sống định cư, canh tác và quá trình thích nghi linh hoạt của con người trước điều kiện tự nhiên luôn biến đổi.
Trong giai đoạn Holocen, ĐBSCL đã trải qua nhiều biến động đáng kể, không ngừng thay đổi do sự dao động của mực nước biển. Bằng chứng này tồn tại ở phía tây vùng nghiên cứu khu vực núi Hang (hang Cá Sấu), có các ngấn nước gặm mòn vào vách đá vôi tạo thành các rãnh có bề rộng đến 0,5m.

Ảnh 1. Ngấn nước gặm mòn vách đá vôi núi Hang (Hang cá sấu), người trong ảnh cao 1,6m, độ cao tương đối ngấn 1 là 0,5m, ngấn 2 là 2m. (Ảnh: Nguyễn Xuân Nam, 2014).
Một trong những cách tiếp cận để nghiên cứu các dạng địa hình cổ là nghiên cứu chuỗi phát sinh hình thái (CPSHT), căn cứ vào mực nước biển, bậc thềm, giồng, gò…vv phát sinh trong cùng một khoảng thời gian.
Vũ Văn Vĩnh và nnk, 2015 [15] đã xác định được 06 chuỗi phát sinh hình thái (CPSHT), được hình thành tính từ thời điểm mực nước biển dâng cao nhất vào giữa kỷ Holocen (khoảng 8.000 năm trước) cho đến tận ngày nay. Tuổi và thứ tự hình thành của các CPSHT này chính là tuổi và thứ tự hình thành của các bậc thềm, các mực nước biển và các dãy giồng cát tồn tại ở Đồng bằng Nam Bộ.
Trong 06 chuỗi phát sinh hình thái (CPSHT) có 3 chuỗi phát sinh 3, 4 và 5 liên quan đến giai đoạn trước và sau văn hóa Óc Eo. Chuỗi phát sinh hình thái 3/CPSHT-3 (từ 3.760 ±55 đến 2.780 ±140 năm trước). Chuỗi phát sinh hình thái 4/CPSHT-4 (từ 2.580 ±70 đến 1.600 ±90 năm trước. Chuỗi phát sinh hình thái 5/CPSHT-5 (từ 1.590 ±90 đến 290 ±20 năm trước).
Bảng 2. Mối liên quan giữa các thời kỳ của văn hóa Óc Eo với thời gian và các yếu tố địa chất – địa mạo ở Tứ giác Long xuyên, Đồng bằng Nam Bộ
| Theo khảo cổ (*1) | Theo địa chất – địa mạo | |||||||
| Thời kỳ | Thế kỷ từ…đến… |
Năm cách ngày nay |
Chuỗi PSHT (*2) |
Thành tạo địa chất – địa mạo (*2) |
Độ sâu bồn trầm tích (m) theo hố khoan, tại (*3) | |||
| 806-RG Rạch Giá |
828, Hà Tiên |
204-IV-NB, Long Xuyên | 10-NB đ.bắc s. Hậu 7km |
|||||
| Hậu Óc Eo |
VIII- XII | 800 | 5 | Đồng bằng 0,2- 0,5m | 1,9 | 1,6 | 2,9 | 5,1 |
| 1200 | Mực biển 0,5m | 1,94 | 1,64 | 3,0 | 8,8 | |||
| Óc Eo | II- VII | 1300 | Dãy giồng Cầu Ngang. Thềm đồng bằng 1,5 -0,7 m. | 3,1 | 2,5 | 4,6 | 9,5 | |
| 1590 | Mực biển 1,5m | 3,4 | 3,0 | 4,7 | 12,2 | |||
| 1680 | 4 | Dãy giồng Trà Vinh. Thềm – đồng bằng 0,8-2,5m. | 4,3 | |||||
| 1800 | 4,6 | 4,2 | 5,4 | 14 | ||||
| Tiền Óc Eo |
III tr.CN – I sau C.N |
1900 | 4,7 | 4,3 | 5.6 | 14,5 | ||
| 2300 | 5,2 | 4,5 | 6.2 | 17,0 | ||||
| Trước nền văn hóa Óc Eo |
2580 | Mực biển 2,5m | 5,6 | 4,9 | 6,8 | 18,7 | ||
| 2780 | 3 | Dãy giồng Vũng Liêm. Thềm 4 -5,5m. |
||||||
| 3570 | Mực biển 5,5m. Thành tạo dãy giồng đầu tiên ở vùng tây nam sông Tiền |
9,4 | 8,5 | 12,5 | 29 | |||
(Giồng Cầu Ngang, giồng Trà Vinh, giồng Vũng Liêm nằm ở phía đông ĐBSCL)
Theo bảng trên, trong thời kỳ tiền Óc Eo, Óc Eo đến thế kỷ VII, theo độ sâu của bồn trầm tích, phía tây Rạch Giá vẫn là nơi thuận lợi cho thuyền bè lớn nhỏ ra vào, qua lại. Phía bắc, đông bắc, phía đông Ba Thê là vùng nước mênh mông, chiều sâu của bồn cao hơn ở Rạch Giá trên dưới 1m. Dọc theo dải trũng sông Tiền – sông Hậu bồn còn sâu tới 5-8m trong thời hậu Óc Eo. Cũng theo bảng trên, đến thời kỳ hậu Óc Eo đáy biển ở Rạch Giá đã nông, độ sâu chỉ còn 1,9m, ít thuận lợi cho thuyền bè qua lại. Việc khai thông đường thủy của Cư dân Óc Eo có thể bắt đầu từ phần cuối của thời kỳ văn hóa Óc Eo nhưng cần thiết và tập trung là vào thời hậu Óc Eo.
Để nghiên cứu chi tiết hơn chúng tôi thành lập sơ đồ địa mạo trên cơ sở Bản đồ địa hình hệ VN2000 năm 2023, tỷ lệ 1/50.000 và Bản đồ địa hình hệ VN2000 năm 2004 tỷ lệ1/25.000. Trên bản đồ thể hiện các điểm độ cao, vẽ bổ xung các đường đẳng cao trên đồng bằng với khoảng cao đều 0,1m.
Sơ đồ thể hiện 3 nội dung chính: a)- Mực biển: độ cao 2,5m, 0,7m, 0,5m; b)- Các gờ cao dạng giồng, các dải trũng, hố trũng. c)- Vị trí các cảng, đường thủy dự đoán theo phân tích địa mạo.
Mực biển độ cao 2,5m, 0,7m, 0,5m dựa theo kết quả nghiên cứu và cách xác định mực biển theo hiện tại luận của Vũ Văn Vĩnh và nnk, 2015 [6].
Có nhiều dải đất nhô cao dạng giồng (ký hiệu G). Đáng chú ý là 5 dải lớn phương đông bắc – tây nam. Dải G1 dài trên 10 km, gồm 2 phân đoạn, cao 1-2m, cách núi Ba Thê 2km về phía tây bắc. Dải G2 dài trên 17 km, cao 0,8 -1m, chạy sát rìa đông nam núi Ba Thê. Dải G3 bắt đầu từ vị trí cách Ba Thê 6km về phía tây nam đến Nền Chùa, dài 15 km, gồm 2 phân đoạn, cao 0,7 -2m. Dải G4 cách G3 6,5km về phía đông nam dài 10,5 km, cao 0,9-1m. Dải G5 cách G4 4,4 km về phía đông nam dài trên 5 km cao 0,9m.
Có 19 trũng và dải trũng khác nhau (ký hiệu T). Giữa các giồng G1, G2, G3, G4, G5 là các dải trũng thoải, rộng, thấp hơn các dải đất cao dạng giồng từ 0,3m đến 1,2m. Về nguồn gốc, phần lớn các dải trũng là thung lũng hay đoạn thung lũng xâm thực bị lấp đầy chưa hoàn toàn. Loại thứ 2 có dạng phễu chưa rõ nguồn gốc. Loại thứ 3 có 01 trũng T8, chưa rõ nguồn gốc nhưng rất quan trọng.
Trũng T8 có dạng đẳng thước, kích thước lớn, đáy cao 0,5m dạng bán kín. Trũng T8, tính đến độ cao 0,6m, diện tích 40,3km2, chu vi 39km; tính đến độ cao 0,7m, diện tích 86km2, chu vi 62km. Trung tâm trũng T8 cách n.Ba Thê 7,5km về phía đông nam. Gò Cát và 3 di tích Óc Eo lân cận nằm sát mép trũng. Trũng T8 liên thông với trũng T9, T10, cùng với các trùng này tạo thành 1 dải trũng liên tục rộng trên 1,7km, dài 19,3km (tính đến Nền Chùa). Dải trũng hiện nay có đoạn đã bị bồi cạn nhưng vẫn rõ: độ cao đáy trũng giảm từ 0,5m ở T8 đến 0,3m ở Nền Chùa. Ở đoạn cuối, dài 6,8km đáy trũng trùng với Lung Mướp. Lung Mướp chảy áp sát và cắt vào nền đất cao Nền Chùa.


Hình 2. Sơ đồ Đia mạo khu vực Óc Eo-Ba Thê
- MỐI LIÊN HỆ SƠN VĂN-THỦY ĐỊA VÀ VĂN HÓA ÓC EO
Sự hưng thịnh và suy tàn của văn hóa Óc Eo, đặc biệt là trung tâm Óc Eo – Ba Thê, không thể tách rời khỏi bối cảnh cổ địa mạo ảnh hưởng cả quá trình biển tiến, biển thoái và bồi tích của Đồng bằng sông Cửu Long trong kỷ Holocen. Các yếu tố tự nhiên, mà chúng tôi mô tả “sơn văn” với địa hình bóc mòn và “ thủy địa” với địa hình tích tụ cùng với hệ thống sông ngòi, kênh rạch đã đóng vai trò quyết định trong việc định hình sự phát triển của nền văn hóa này.
4.1. Sự tương tác của văn hóa Óc Eo với địa hình (Sơn văn)
Giữa một đồng bằng bằng phẳng và rộng lớn, sự hiện diện của các khối núi sót như núi Ba Thê và các núi thấp bao quanh nó tạo thành những điểm nhấn địa hình độc đáo, hình thành một vùng bán sơn địa hiếm hoi. Đây không chỉ là cảnh quan đặc biệt mà còn là những yếu tố sinh tồn quan trọng. Trước hết đây là các ngọn núi cung cấp nơi trú ẩn an toàn khỏi các trận lũ lớn hàng năm của sông Mê Kông, vốn là mối đe dọa thường trực đối với các vùng đất thấp. Đồng thời, nền đá vững chắc của núi cũng là nền móng lý tưởng cho việc xây dựng các công trình kiến trúc quy mô lớn, đặc biệt là các quần thể tôn giáo và đền đài trên sườn núi Ba Thê. Núi cung cấp các loại vật liệu xây dựng quý giá như gỗ, đá, đáp ứng nhu cầu xây dựng đô thị và các công trình tôn giáo. Chúng cũng là nguồn cung cấp nước ngọt quan trọng từ các suối chảy ra, đặc biệt trong mùa khô. Với độ cao vượt trội, đỉnh núi đóng vai trò là điểm quan sát lý tưởng cho mục đích quân sự, kiểm soát tuyến đường thủy và giám sát hoạt động thương mại trong vùng.
Một đặc điểm nổi bật của khu vực núi Ba Thê là hệ thống thủy văn tỏa tia, với các dòng suối ngắn chảy từ đỉnh hoặc sườn núi ra các hướng, tiêu biểu cho dạng thoát nước từ trung tâm. Hệ thống này phát triển rõ trên bề mặt granit bị chia cắt mạnh bởi các khe nứt, không chỉ giúp tăng khả năng thấm và lưu giữ nước mà còn tạo điều kiện cho nước ngầm xuất lộ ở các vị trí cao hơn so với mặt đồng bằng xung quanh. Ghi nhận thực tế cho thấy một số vị trí có giếng và hố nước tự nhiên trên đỉnh hoặc sườn núi, quanh năm có nước, dù cao hơn nền đồng bằng. Đơn cử như giếng nước trên đỉnh núi Trọc cao khoảng 28 m, hay năm hố nước nhỏ trên sườn Núi Dài (thuộc Bảy núi), đều là các minh chứng điển hình cho vai trò tích – dẫn – trữ nước của đá granit nứt nẻ. Những điểm này không chỉ có giá trị khoa học mà còn gắn bó chặt chẽ với đời sống và tín ngưỡng của cư dân bản địa.
Các núi hình nón phát triển trên cấu trúc nâng dạng vòm, hình thành dạng địa hình trung tâm với mạng lưới thủy văn tỏa tia là một di sản địa chất đặc biệt nên được nghiên cứu thêm.
Đặc biệt, cư dân cổ văn hóa Óc Eo – một nền văn minh phát triển rực rỡ tại vùng này có vẻ đã nhận biết được hiện tượng địa chất – thủy văn độc đáo này. Một số hiện vật khảo cổ, như đồng tiền và biểu tượng tôn giáo có hình dạng tỏa tia, cho suy nghĩ về sự mô phỏng hình thái thoát nước quanh núi đá, đồng thời thể hiện sự kết hợp giữa quan sát tự nhiên và yếu tố tín ngưỡng. Khả năng cao là hiện tượng thủy văn tỏa tia trên các khối núi đã được thần hóa, trở thành điểm tựa cho thiết lập các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng trong giai đoạn cổ đại, góp phần hình thành trung tâm cư trú – văn hóa Óc Eo tại khu vực này.
4.2. Sự tương tác của văn hóa Óc Eo với hệ thống “Thủy địa”
Văn hóa Óc Eo không thể tách rời khỏi bối cảnh địa mạo – thủy văn đặc thù của vùng đồng bằng ven biển Tây Nam bộ, nơi sự chuyển biến giữa đất – nước luôn linh hoạt và có tính chu kỳ theo dòng chảy sông Mê Kông và biến động mực nước biển. Trong suốt tiến trình từ tiền Óc Eo đến hậu Óc Eo (thế kỷ VII), cư dân nơi đây đã thích nghi và khai thác tối đa hệ thống “thủy địa” – mối tương tác giữa hình thái địa hình (giồng, trũng, gò) và điều kiện thủy văn (bồn trũng, mực nước, dòng chảy).
Trong thời kỳ Óc Eo, các khu vực như phía Tây Rạch Giá và vùng bao quanh núi Ba Thê được xác định là có bồn trũng sâu, thuận lợi cho tàu thuyền lớn nhỏ qua lại. Đặc biệt, vùng nước mênh mông ở phía Bắc, Đông Bắc Ba Thê có độ sâu hơn khu vực Rạch Giá, tạo ra các “hồ nội địa” bán tự nhiên – môi trường lý tưởng cho giao thương thủy nội địa và cảng thị hình thành. Tuy nhiên, đến hậu Óc Eo, ven biển ở Rạch Giá dần bị bồi lắng mạnh khiến nhu cầu khai thông, nạo vét và duy trì tuyến thủy đạo trở nên cấp thiết.
Sơ đồ địa mạo đã xác định rõ mối liên hệ giữa giồng đất cao (G1 – G5) và các dải trũng (T8 – T10). Các giồng như G1, G2, G3,… cao từ 0,7–2m, trải dài theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, đóng vai trò là “xương sống cư trú” – nơi cư dân cổ dựng nhà cửa, công trình tôn giáo và tổ chức đời sống xã hội. Ngược lại, các dải trũng rộng, thoải, thấp hơn từ 0,3–1,2m so với giồng, chính là hành lang thủy đạo – những kênh giao thông – thủy lợi tự nhiên hoặc bán tự nhiên mà cư dân Óc Eo khai thác để kết nối vùng nội địa với biển và các trung tâm khác.
Đặc biệt, trũng T8 có diện tích lên tới 86km² (tính đến độ cao 0,7m), nằm gần các di tích Óc Eo lớn như Gò Cát, gò Cây Thị…vv, cho thấy sự gắn bó mật thiết giữa trung tâm cư trú – tín ngưỡng – sản xuất với môi trường thủy trũng xung quanh. Hệ trũng liên hoàn T8 – T9 – T10 kéo dài gần 20km, trùng khớp với dòng Lung Mướp ngày nay, cho thấy đây có thể từng là trục thủy đạo cổ nối vùng trung tâm Óc Eo với vùng ven biển, giữ vai trò huyết mạch về kinh tế – văn hóa.
Từ đó có thể khẳng định: hệ thống “thủy địa” là nền tảng không gian sống linh hoạt của cư dân Óc Eo. Giồng đất cao cung cấp mặt bằng cư trú an toàn trong mùa nước nổi, trong khi trũng nước lại là hệ thống vận tải – sinh kế – phòng thủ chiến lược. Cư dân Óc Eo không bị động trong môi trường nhiều nước mà ngược lại, chủ động điều phối – cải tạo – tận dụng nó để thiết lập mô hình xã hội – tín ngưỡng – thương mại tiên tiến, phản ánh rõ tư duy “thủy quản” mang tính tổ chức nhà nước sơ kỳ.
4.3. Tác động của biến động môi trường đến sự suy tàn của văn hóa Óc Eo:
Mặc dù các yếu tố tự nhiên đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự hưng thịnh của Óc Eo, nhưng chính những thay đổi trong môi trường cũng cần được xem là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự suy tàn của nền văn minh này vào khoảng thế kỷ VII.
Nghiên cứu cổ địa mạo cho thấy vào giai đoạn thế kỷ I đến VII là giai đoạn biển lùi, mực nước biển cao hơn này nay chỉ khoảng 0,5 m, nhánh sông Hậu có hướng dịch chuyển sang phía Đông, một số nhánh sông cổ từng là huyết mạch dẫn vào Óc Eo có thể bị bồi lấp, các nghiên cứu về hệ thống kênh đào cổ Óc Eo (kênh nội thị và kênh nối ra biển) cho thấy chúng đã bị bồi lấp không nằm trên các cấu trúc địa hình tuyến thủy lộ chính, đây là bằng chứng cho thấy có sự thay đổi lớn về thủy văn.
Mặc dù biển lùi đã tạo điều kiện cho đồng bằng mở rộng, tuy nhiên quá trình này cũng gây biến động ở những khu vực cụ thể, ví dụ cảng thị ven biển như Nền Chùa (tiền cảng của Óc Eo) có thể bị cách ly khỏi biển, biến thành vùng đất nội địa. Tài liệu trầm tích Đệ tứ cho thấy ở ven biển Rạch Giá có lớp dầy trầm tích hỗn hợp biển-đầm lầy tuổi Holocen muộn và như thế không phải là một vịnh nước sâu thích hợp với cảng biển.
Tác động của biến động môi trường có thể được quy về 3 vấn đề sau:
Thứ nhất là sự dịch chuyển và bồi lấp của sông rạch, các dòng sông trong châu thổ là những hệ thống năng động, không ngừng dịch chuyển, bồi lấp các nhánh cũ và hình thành các nhánh mới. Sự thay đổi này có thể đã làm thay đổi tuyến giao thương huyết mạch, khiến các cảng thị như Óc Eo mất đi vai trò chiến lược. Khi các tuyến sông chính dịch chuyển ra xa hoặc bị bồi lấp, việc tiếp cận biển và các vùng nội địa trở nên khó khăn hơn, làm suy giảm hoạt động thương mại quốc tế vốn là nền tảng kinh tế của Óc Eo.
Thứ hai là biến động khí hậu, Các thay đổi về khí hậu khu vực, chẳng hạn như sự thay đổi về chế độ mưa, cường độ lũ lụt, hoặc các giai đoạn hạn hán kéo dài, có thể đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp (vốn phụ thuộc vào nước ngọt và phù sa), gây ra thiếu lương thực và dịch bệnh. Điều này có thể đã buộc cư dân phải di cư hoặc thay đổi mô hình sinh sống.
Thứ ba là sự thay đổi mực nước biển, mặc dù mực nước biển có xu hướng ổn định và hạ thấp trong giai đoạn Óc Eo tồn tại, nhưng những dao động cục bộ hoặc sự biển lùi quá mức có thể đã ảnh hưởng đến các cảng biển và tuyến đường thủy. Nếu mực nước biển rút quá xa, các cảng thị ven biển sẽ trở thành đất liền, mất đi khả năng tiếp cận biển và vai trò trung chuyển thương mại. Ngược lại, nếu có những đợt biển tiến nhỏ hoặc sự gia tăng tần suất bão biển, các vùng đất thấp ven biển có thể bị ngập lụt hoặc xâm nhập mặn nghiêm trọng.
Sự suy tàn của văn hóa Óc Eo có lẽ là kết quả của sự kết hợp nhiều yếu tố: biến động môi trường tự nhiên, kết hợp với các yếu tố nội tại (như sự thay đổi chính trị, xã hội) và các yếu tố bên ngoài (sự nổi lên của các thế lực mới trong khu vực). Tuy nhiên, vai trò của biến đổi môi trường địa chất và thủy văn là không thể phủ nhận, minh chứng cho sự mong manh của các nền văn minh khi đối mặt với sự thay đổi của tự nhiên.
- THẢO LUẬN
Sự thịnh vượng của Óc Eo-Ba Thê là minh chứng cho khả năng thích nghi và tận dụng tối đa lợi thế “sơn văn – thủy địa” độc đáo. Sự kết hợp giữa núi và nước tạo nên một mô hình phát triển khác biệt so với các nền văn minh châu thổ thuần túy.
Các bằng chứng địa mạo và trầm tích cho thấy biến đổi môi trường (như dịch chuyển sông, bồi lấp, biến đổi khí hậu) đóng vai trò quan trọng trong sự suy tàn của Óc Eo. Điều này nhấn mạnh tính mong manh của các nền văn minh khi đối mặt với sự thay đổi của tự nhiên.
Nguồn gốc trũng T8 chưa rõ. Tài liệu tuy chưa đủ sức kết luận nhưng theo các tài liệu mô tả trong bài báo, thể hiện trên bảng tính toán mực nước, trên sơ đồ địa mạo đã hiện rõ các khả năng giúp cho việc định hướng nghiên cứu tiếp theo.
+ T8 từng là một vụng biển kích thước lớn, độ sâu có thể tới vài mét. T8 đã liên thông với biển Tây qua eo biển (tạm gọi là eo Ba Thê) rộng trên 1,7 km qua sát Nền Chùa khi mực nước biển ở mức 0,7m . Về thời gian, thời kỳ Óc Eo, có thể có một phần trước đó thuộc tiền Óc Eo hoặc sau đó thuộc hậu Óc Eo eo biển này đã được sử dụng, tận dụng làm kênh giao thông đường thủy chính từ Nền Chùa tới Ba Thê. Cảng C1 ở Nền Chùa, Cảng C2 ở Giồng Cát là điểm lựa chọn tốt nhất vê mặt địa mạo cho đường giao thông đường thủy này.
+ Trũng T8 còn có khả năng nối với eo biển sông Tiền – sông Hậu, liên thông với biển Đông và những phần khác của đồng bằng Nam Bộ.
+ Từ thế kỷ II đến thế kỷ VII, 600 năm, eo Ba Thê được bồi tụ, nông dần. Vào thế kỷ thứ VIII khi mực nước hạ thấp tới 0,5m việc đi lại dọc theo eo biển đã không còn thuận lợi như trước. Đoạn 6,6 km từ cảng C2 theo eo Ba Thê có thể vẫn thuận lợi, tiếp tục được khai thác, sử dụng. Để tiếp tục giao thông đường thủy đến Nền Chùa, ra biển, tận dụng cảng cũ, cư dân Óc Eo đã mở mới kênh Lung Lớn, dài 10,3 km về cảng Nền Chùa; tạo cảng C3 ở Nền Chùa; đào kênh Tà Keo dài 7,2km nối thông ra biển; đào tuyên kênh dài 1,7 km nối cảng C3 với cảng C2.
- KẾT LUẬN
Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng châu thổ năng động, được định hình bởi sự tương tác phức tạp giữa sông Mê Kông và biển Đông trong suốt kỷ Holocen. Quần thể di tích Óc Eo – Ba Thê, là minh chứng sống động cho mối quan hệ sâu sắc giữa con người và môi trường tự nhiên trong một vùng đất luôn biến đổi.
Bài báo bước đầu làm rõ các đặc điểm cổ địa mạo vùng đất Ba Thê, bao gồm sự hiện diện của các khối núi sót cổ (như núi Ba Thê), các dạng địa hình bồi tụ trẻ (như giồng, gò, đồng bằng ) và các hệ thống kênh rạch cổ. Đặc biệt, sự dịch chuyển của ranh giới đường bờ biển cổ, với giai đoạn biển tiến cực đại khoảng 6.000 năm trước đã đẩy đường bờ biển lùi sâu vào lục địa, sau đó là giai đoạn biển lùi dần, tạo điều kiện cho sự mở rộng đồng bằng và sự phát triển của văn hóa Óc Eo.
Mối quan hệ “sơn văn – thủy địa” đã đóng vai trò then chốt trong sự hình thành và phát triển vượt bậc của văn hóa Óc Eo. Các yếu tố “sơn” cung cấp nơi trú ẩn và điểm tựa vững chắc, trong khi các yếu tố “thủy” (sông, kênh rạch) tạo nên hệ thống giao thông huyết mạch và nguồn phù sa màu mỡ. Tuy nhiên, chính sự phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên cũng khiến Óc Eo dễ bị tổn thương trước những thay đổi môi trường. Sự dịch chuyển, bồi lấp của sông rạch và các biến động khí hậu được xem là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự suy tàn của nền văn minh này.
Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về mối liên hệ của các di tích phía Nam Óc Eo, diễn biến cụ thể của các tuyến thủy lộ cổ, và tác động định lượng của biến đổi cổ khí hậu.
Việc nghiên cứu Óc Eo – Ba Thê không chỉ là tìm hiểu về một chương lịch sử cổ đại mà còn là khám phá những bài học quý giá về sự thích nghi và tính bền vững của con người trước sự thay đổi của môi trường châu thổ. Trong bối cảnh Đồng bằng sông Cửu Long hiện đại đang đối mặt với những thách thức môi trường tương tự, việc hiểu rõ quá khứ sẽ cung cấp những kinh nghiệm và cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng các chiến lược phát triển bền vững, bảo vệ vùng đất và cuộc sống của hàng triệu người dân trong tương lai.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (2018). Khu di tích Ba Thê – Óc Eo (An Giang) và vấn đề bảo tồn di tích văn hóa Óc Eo hiện nay. Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 1-2018 (trích đăng trên baotanglichsu.vn).
- Đặng Văn Thắng – Võ Thị Anh Tuyết – Võ Thị Huỳnh Như – Đào Vinh Hộp (2025). The Role of Óc Eo Ancient City in the International Maritime Trade Network (1st–7th centuries). Journal of Ecohumanism, Vol. 4, No. 1.
- Huỳnh Thị Kim Quyên, Nguyễn Thị Ái Liên, Nguyễn Thanh Bình. (2017). “Nghiên cứu tốc độ lắng đọng trầm tích Holocen khu vực ven biển ĐBSCL dựa trên tuổi C14.” Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, Khoa học Tự nhiên, 51, 100-109.
- Nguyễn Đức Tâm, 2022. Địa chất Đệ tứ Việt Nam. Nxb Đại học Huế.
- Nguyễn Huy Dũng (chủ biên), 2003. Phân chia địa tầng N-Q và nghiên cứu cấu trúc địa chất đồng bằng Nam Bộ. Liên đoàn bản đồ địa chất miền Nam.
- Nguyễn Ngọc Hoa và nnk,1990. Báo cáo tổng kết đo vẽ địa chất và điều tra khoáng sản nhóm tờ Đồng bằng Nam Bộ. Lưu trữ Liên đoàn BĐĐCMN.
- Nguyễn Thị Mai Hương – Lê Thị Liên – Nishimura Masanari (2020). Initial Investigation of the Mekong River Delta Environment during the Óc Eo Period. Trong: Suzuki H., Nishiaki Y., Matsui A., et al. (biên tập), Proceedings of the 12th International Conference of the European Association of Southeast Asian Archaeologists (Việt Nam 2019), trang 354–364.
- Phạm Trung Kiên. (2017). Địa chất đệ Tứ và Địa mạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long. NXB Khoa học và Kỹ thuật.
- Sinsakul, S. (1997). Holocene sea-level change in the Gulf of Thailand. Quaternary International, 37, 81-89.
- Sinsakul, S. (2000). Holocene sea level changes in the coastal area of Thailand. Journal of Asian Earth Sciences, 18(6), 721-728.
- Tamura, T., Matsukura, Y., & Kojima, S. (2009). Coastal landforms and Holocene sea-level changes in the Mekong Delta, Vietnam. Journal of Asian Earth Sciences, 36(5), 450-459.
- Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (2020). Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo quốc gia năm 2016-2020. (Có thể truy cập qua các báo cáo chính thức của Bộ Tài nguyên và Môi trường).
- Trần Đức Thạnh, Tạ Thị Thanh, Nguyễn Hữu Cử, Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Anh Dũng, Nguyễn Văn Phán, Nguyễn Văn Bằng, Nguyễn Thị Minh Huyền, Lê Thị Thuý, Nguyễn Thị Minh Hiếu. (2012). “Biến động mực nước biển cuối Pleistocen – Holocen và ảnh hưởng đến tiến hóa châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long.” Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, 12(3), 295-305.
- VietnamPlus (2022). New important findings shed light on past at Óc Eo archaeological site. Bài viết đăng ngày 28-3-2022 (tiếng Anh) en.vietnamplus.vn.
- Vũ Văn Vĩnh và nnk, 2015. Một vài vấn đề địa chất Đệ tứ Ở Đồng bằng Nam Bộ trên cơ sở phân tích địa mạo-trầm tích. Tạp chí địa chất số S.351 kỷ niệm 40 năm thành tựu và phát triển Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam.
- Lê Xuân Thuyên, 2019. Môi trường cổ địa lý khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn Holocen muộn và nền văn hóa Óc Eo. Hội thảo khoa học Bảo tồn di tích và Di vật văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ.
Một số hình ảnh trong buổi hội thảo quốc tế tại Rạch Giá năm 2025


OC EO CULTURE IN THE “SON VAN-THUY DIA” SYSTEM OF THE MEKONG DELTA
Nguyen Xuan Nam,1* Vu Van Vinh2, Tran Tan Van1, Nguyen Thi Truong Giang 3,4
1 Center for Karst and Geological Heritage, Institute of Geosciences & Geophysics
2 Ho Chi Minh City Geological Society
3 Faculty of Geology, University of Natural Sciences, Ho Chi Minh City, Vietnam
4 Ho Chi Minh City National University, Vietnam
*0989345508, nam_nguyen_xuan@hotmail.com
SUMMARY
The Mekong Delta (MD) is a young and dynamic delta, continuously formed and developed under the complex impact of the Mekong River and the East Sea. In this special geographical context, the Oc Eo civilization, with the center of Oc Eo – Ba The (An Giang), flourished from the 1st to the 7th century AD, representing the ancient Kingdom of Phu Nam. Oc Eo – Ba The was not only a bustling ancient urban area but also an important international trade and transit center, connecting major Asian and European civilizations. The Ba The mountain complex was also a large-scale religious center and architectural center.
This study focuses on assessing the characteristics of “mountain” and “land-water” in the context of the delta plain affected by sea level rise and fall, clarifying the interactive relationship between the Oc Eo civilization and the landform. Initial research shows that these natural factors shaped the formation and outstanding development of the Oc Eo civilization, and were also important causes leading to its decline. The prosperity of Oc Eo was closely linked to its strategic position on trade routes and the ability to effectively exploit natural resources. In contrast, the decline of this civilization was closely related to environmental changes such as the displacement and sedimentation of the river system, climate change and sea level fluctuations. The study of Oc Eo – Ba The not only has the meaning of discovering a chapter of ancient history but also provides valuable lessons about the interaction between humans and the environment in a dynamic delta, which is especially important in the context of the modern Mekong Delta facing similar environmental challenges.
Keywords: Oc Eo; Ba The; Mekong Delta; Mountain culture-hydrology; Oc Eo culture.
VCKG Trung tâm Karst và Di sản địa chất